TP - Ngày 19-12-1969, lại một tin sét đánh với chúng tôi: Ba hy sinh. Niềm hy vọng còn lại của ba chị em chúng tôi đã mất...

> Kỳ 1: Tuổi thơ bom đạn

Thỉnh thoảng trên đường công tác ghé thăm nhà, ông thường nói với ba chị em: Cố gắng ăn học nghe lời dạy bảo của ngoại, mai sau khôn lớn sẽ đi với ba.

Theo ông Trần Văn Đức, bức ảnh này chụp ông đang ôm em gái tên Hà nằm tránh đạn.

Còn lại ba chị em

...Nhìn kỹ tấm hàng rào kẽm gai bị ngã về phía ruộng lúa trong bức ảnh trên và bao lỗ trống trong ruộng lúa xanh tươi, đó là chỗ nằm của những xác người. Ronald L. Haeberle chụp chưa được toàn cảnh, phía sau chỗ ông đứng và phía bên trái khi đó còn rất nhiều xác đàn bà và trẻ em.

Vừa rời Tháp Canh không xa, một chiếc trực thăng xuất hiện từ hướng đồn Voi rồi bỗng dưng bay rất thấp. Tôi sợ quá ôm em Hà nằm rạp xuống để tránh đạn. Nhìn lên máy bay thấy rất rõ có vài tên lính Mỹ và một người ngồi ngoài cửa máy bay, chắc là để chụp hình chứ không phải bắn người, nếu họ bắn thì hai anh em tôi đã trúng đạn rồi, vì họ bay rất thấp. Sau đó máy bay biến mất, tôi ôm em Hà đứng dậy và tiếp tục chạy lên hướng Trường An theo lối đường truông để về Sơn Hội.

Trên đoạn đường ôm kéo em đi, thỉnh thoảng vẫn gặp vài xác người có lẽ đi làm đồng buổi sáng hoặc đi chợ xa bị lính gặp và bắn chết. Xa xa phía trong làng, tiếng súng vẫn còn đang bắn dữ dội, khói cháy từ những căn nhà bị đốt bốc cao đen mịt cả một vòm trời.

Máy bay trực thăng vẫn còn oanh tạc, Sơn Mỹ và bao người dân vô tội, cùng những đứa trẻ thơ đang bị tấn công tiêu diệt, trời đất Mỹ Lai đảo điên như sụp đổ. Bao người thân quen, bà con Mỹ Lai chân quê mộc mạc họ làm gì nên tội ? Tại sao phải tiêu diệt họ? Cuộc tàn sát mỗi lúc một dữ hơn, những tên lính càng bắn giết càng man rợ và điên cuồng hơn...

Tiếp tục ôm em lủi thủi về Tăng Long. Gần xế bóng mới về đến nhà ngoại. Ngoại ôm hai cháu và khóc thật nhiều. Bà đi gọi ông Hùng y tá ở Tăng Long về băng bó, cứu chữa cho tôi và Hà. Tôi bị thương ở trán, Hà thì bị ở bụng. Dân Tăng Long kéo đến nhà ngoại đông lắm để xem, hỏi thăm và giúp đỡ.

Chị Mỹ năm đó 9 tuổi. Chị bị ngã xuống ruộng và nằm im giả chết, máu thịt của những người bị bắn chết bên cạnh văng vãi phủ lên đầy mình. Khi lính Mỹ bỏ đi, chị lom khom bò dậy và cố đi tìm mẹ. Chị gặp một người đàn bà còn sống sót bảo rằng: "Mẹ con đã đi về ngoại của con rồi".

Rồi người đàn bà ấy dẫn chị Mỹ cùng đi tìm con của bà. Con bà cũng đang nằm gần đó. Bà thấy và ôm xốc lên, đứa bé bị thương rất nặng. Bà hớt hải ôm con chạy, chạy lên hướng Trường An để tìm nơi cấp cứu. Chị Mỹ cứ vậy mà chạy theo bà, lên khỏi Trường An đến Tịnh Thiện, bà gửi chị Mỹ vào nhà một người dân và ôm con đến trạm xá cấp cứu.

Chị Mỹ bảo, đứa bé chắc không qua khỏi vì vết thương khá sâu và dài, máu chảy ra nhiều quá... Sáng ngày 17-3-1968, người dân chỉ đường cho chị tôi tìm về được Sơn Hội. Gặp lại chị, tôi vui mừng khôn tả, nhưng chưa khỏi bàng hoàng. Tôi hỏi chị về chị Hồng và em Huệ của tôi, chị bảo bị lính Mỹ bắn chết hết rồi.

Ba tôi đang công tác ở Vĩnh Ty, Tịnh Hiệp. Nghe tin vụ thảm sát, ông hớt hải tìm đường về Sơn Mỹ. Đường đi rất khó khăn vì ông là cách mạng, mãi tối 17-3-1968 ông mới về đến Tư Cung. Vài ngày sau, tình hình Mỹ Lai lắng xuống, một đêm tối trời và lâm râm mưa, ông ghé về Tăng Long thăm mẹ vợ. Rất mừng vì đến lúc đó mới biết được ba đứa con của ông vẫn còn sống sót và đang đứng trước mặt ông.

Tôi nhớ rất rõ hình ảnh ba ôm ghì lấy tôi, Hà cùng chị Mỹ vào lòng và khóc thật lâu. Sau ngày ấy, ba thường về thăm chúng tôi và để lo chữa vết thương cho tôi và em Hà.

Sau khoảng 2 tuần tôi thấy ông cạo trọc đầu và trông rất buồn thảm. Vì đang bận công tác ở Vĩnh Ty, Tịnh Hiệp cho nên ba lưu lại ở quê không lâu, phải trở lại đơn vị. Trước khi đi ông gửi gắm chúng tôi cho những người bạn thâm tình giúp đỡ sau này.

16-3-1968 - giặc Mỹ đã cướp đi người mẹ yêu quí, người chị và đứa em thật hiền hòa, chúng tôi đã bị mất một gia đình thật sung túc và đầm ấm...

Bức ảnh biểu tượng cho nỗi đau Mỹ Lai Ảnh: Ronald Haeberle.

Tháng ngày đói rách

Những ngày đầu tiên, những tuần đầu tiên, ba chị em cứ ngồi ôm nhau khóc. Nhưng rồi, dần dần lũ trẻ chúng tôi cũng phải tuân theo qui luật của cuộc sống, cố gắng để tồn tại.

Nhà ngoại tôi thật nghèo. Nhà tranh vách đất, nằm trên đất công dưới lũy tre làng bên dòng sông Sơn Hội. Trước đó không lâu cứ mỗi lần cùng hai chị về thăm ngoại, tôi thường coi nơi này là tiên cảnh, có dòng sông tôi tha hồ tắm, có bãi cát trắng cho chúng tôi nô đùa và đám trẻ con nơi đây sao mà dễ làm quen đến thế. Vậy mà hôm nay, nét hồn nhiên trong tôi không còn nữa... Tôi thấy thật đắng cay!

Ngoại già yếu, cố gắng đi phiên chợ chiều An Lộc để mua bán cá, vốn ít ỏi cho nên lời cũng không được nhiều, nhưng đó là nguồn sống chính của bốn bà cháu. Chị Mỹ xin đi ở đợ cho bà Bốn Thường dưới An Lộc để kiếm cơm ăn và phụ với ngoại. Ba tháng sau, tôi bắt đầu đi mót lúa, củ lang, củ mì... để phụ thêm cho sinh nhai của gia đình.

Mới có vài tháng mất mẹ, xa gia đình đầm ấm mà chị Mỹ cùng tôi như kẻ ăn mày từ lâu lắm rồi. Hai chị em trông thật đen và ốm. Cứ sáng sớm phải ra đồng và mãi tận chiều tối mới về đến nhà. Tôi đội chiếc nón rách, bộ quần áo tả tơi, cây cuốc chỉa và một cái bao Đại Hàn. Người dân đang thu hoạch, đến mót lúa, mì, lang, bắp củ, huỳnh tinh... Đôi khi tôi phụ giúp cả ngày cho họ để đón nhận một chút công ít ỏi là vài trái bắp, đôi ba cân củ lang...

Ngoại già yếu, cố gắng đi phiên chợ chiều An Lộc để mua bán cá, vốn ít ỏi cho nên lời cũng không được nhiều, nhưng đó là nguồn sống chính của bốn bà cháu. Chị Mỹ xin đi ở đợ cho bà Bốn Thường dưới An Lộc để kiếm cơm ăn và phụ với ngoại. Ba tháng sau, tôi bắt đầu đi mót lúa, củ lang, củ mì... để phụ thêm cho sinh nhai của gia đình.

Với em Hà càng thật gian nan hơn. 14 tháng tuổi mất mẹ, lấy đâu ra sữa, em khóc nhiều và teo riết. Ngoại hay ôm em Hà đi tìm phụ nữ trong làng có con mọn để xin bú nhờ.

Ngày 19-12-1969, lại một tin sét đánh với chúng tôi: Ba hy sinh. Niềm hy vọng còn lại của ba chị em chúng tôi đã mất. Dù rất ít về thăm và thỉnh thoảng gửi tiền phụ giúp ngoại tôi, nhưng với chị em chúng tôi, ông là nguồn động viên vô cùng lớn. Ông thường nói với ba chị em: Cố gắng ăn học nghe lời dạy bảo của ngoại, mai sau khôn lớn sẽ đi với ba...

Cuộc sống kinh tế gia đình vốn khó, ba tôi mất lại càng khó khăn hơn. Năm 1970, tôi và chị Mỹ được ngoại cho đi học. Vài tiếng đồng hồ mỗi ngày trong lớp học. Còn lại tất cả thời gian, chị em chúng tôi phải bươn chải với đời, khi trái gió trở trời kiếm không được miếng ăn thì chúng tôi đành chịu đói.

Bà Rân, ông Tám em, ông Yên và tất cả dân thôn Tăng Long ngày ấy rất đau lòng trước cảnh ngộ của chị em chúng tôi. Cái củ mì, củ lang, đọt phay của vườn nhà bà Rân đã cầm hơi được bao cơn đói lả cho ba chị em. Rất nhiều lần tôi bị ngã gió, say gió do đói quá phải ăn nhiều quả “uma“ (trái trứng gà).

Hà dần lớn lên, rồi cùng chị Mỹ và tôi bươn chải gian lao để kiếm miếng ăn manh áo. Ngoại càng ngày càng già, buôn bán đâu còn được nữa, gia đình tôi càng ngày càng thiếu túng hơn.

Năm 1972, chị Mỹ học đến lớp 3 trường cơ sở Tăng Long thì phải nghỉ học. Chị buồn và tiếc lắm, nhưng chị chấp nhận và chọn hy sinh để hai đứa em mình được học tiếp. Chị đi ở cho người ta thật khổ sở, quần áo rách rưới, ăn uống thiếu thốn, rất nhiều hôm thật khuya chị mới về đến nhà, chị luôn dành cho tôi và Hà những chén cơm đầy, những thức ăn ngon, còn chị ăn qua loa gì cũng xong. Chị thường ăn sau cùng để cố nuốt những thức ăn thừa còn lại.

Từ sau ngày 16-3-1968, bà ngoại lầm lũi và rất cố gắng để đàn cháu khỏi chết đói hoặc đưa đẩy vào dòng đời đen bạc. Hồi đó, bà hay bị chính quyền xã Sơn Hội bắt ra xã để hội đồng tra hỏi vì có con đi làm cách mạng, và họ thường xuyên bắt bà ngủ lại để canh giữ cơ quan xã khỏi bị cộng sản gài mìn hoặc tấn công.

Thời gian những năm 1972-1973, chiến sự tôi lan rộng khắp mọi nơi. Không chỉ Bình Đức, Sơn Mỹ mà lan rộng đến Sơn Hội, Sơn Thành, Sơn An... Dân quê tiếp tục chết nhiều dưới bom đạn. Cuối năm 1972, Sơn Hội cũng là bãi chiến trường. Gia đình tôi cùng bà con Sơn Hội phải tản cư lên Tịnh Ấn, vài tuần khi tiếng súng tạm yên trở lại, căn nhà của ngoại bị một trái bom Mỹ thả trúng cháy sạch chỉ còn lại cái hố bên cạnh khá sâu. Bà con dân làng vất vả dựng giúp bà cháu chúng tôi một căn nhà lợp tranh lẫn bói vách đất để nương thân.

Những buổi chiều mệt lả, từ núi Tranh hay Sơn Mỹ, tôi đi mót củ mót lúa trở về, qua cánh đồng Mã Sơn Hội, nhìn đám bạn cùng trang lứa học cùng trường đang thả diều, đá banh, tung tăng đùa nghịch, tôi đứng lại lặng nhìn thật lâu, lòng dâng lên bao nỗi buồn, tủi thân khôn tả. Tôi không dám đến gần hoặc đi theo đường cũ, chọn cách rẽ đường khác để giữ khoảng cách xa hơn.

Những lúc ấy tôi hay nhìn lại mình, trên vai mang chiếc cuốc chỉa cán dài, đầu kia treo lủng lẳng một cái bao Đại Hàn màu xanh cũ nát, chắc cũng được vài cân củ lang nhỏ xíu mà người ta hay dùng nó để nấu cám cho heo ăn, bộ đồ tôi mặc đã rách nát và đổi màu từ lâu cùng chiếc nón cời thật thê thảm...

(còn nữa)

Trần Văn Đức (Remscheid - Đức)