(ĐCSVN) - Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XII vừa thông qua Nghị quyết về chủ trương đầu tư dự án điện hạt nhân Ninh Thuận. Đây là vấn đề đang được dư luận quan tâm. Để giúp bạn đọc có thêm thông tin về vấn đề này, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam giới thiệu bài viết của TS. Đinh Đức Hữu, Việt kiều Mỹ, một chuyên gia đã nhiều năm hoạt động trong lĩnh vực điện hạt nhân ở Hoa Kỳ và đang là Cố vấn cao cấp kiêm Giám đốc chương trình đào tạo chuyên gia điện hạt nhân của Viện Năng lượng nguyên tử thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ.

TS. Đinh Đức Hữu trao đổi với báo chí về vấn đề điện hạt nhân Hiện nay trên thế giới, nguồn dầu khí đang ngày càng cạn kiệt do mức tiêu dùng ngày càng nhiều, nguồn dự trữ dầu khí ước tính còn khoảng 50 đến 100 năm. Số lượng dầu khí dự trữ không còn nhiều, nên giá cả ngày một tăng, việc sử dụng dầu khí để sản xuất ra điện không còn tính khả thi vì quá đắt. Bên cạnh đó, lượng dầu khí còn lại phải sử dụng vào các lĩnh vực quan trọng khác như kỹ nghệ xe hơi, máy bay, hóa chất, chế tạo vật liệu mới và kỹ nghệ dược phẩm. Than đá đã được sử dụng rất nhiều để chạy nhà máy phát điện, 80% tại Trung Quốc, 45% tại Hoa Kỳ, Châu Âu là 40% và cả thế giới bình quân khoảng 40%. Nhược điểm của nhà máy nhiệt điện là khi cháy, than thải ra lượng lớn khí độc CO2, gây hiệu ứng nhà kính, làm tan băng tại Bắc và Nam bán cầu khiến cho mực nước biển dâng lên cao, xâm lấn vào đất liền, phá hoại môi trường, hủy diệt các thảm thực vật vốn là hành lang bảo vệ con người chống lại bão tố. Khí hậu nóng lên còn tạo ra sự chênh lệch nhiệt độ và là nguyên nhân hình thành các cơn bão lớn. Tại Việt Nam, Viện nghiên cứu về hậu quả thay đổi khí hậu đã cảnh báo và báo cáo Chính phủ khi mực nước biển có thể dâng lên 1m và nhấn chìm gần một nửa tỉnh Bến Tre và diện tích trồng trọt miền Tây sẽ giảm đi đáng kể, đe dọa một số quận huyện của thành phố Hồ Chí Minh. Hiểm họa đó đã rất rõ ràng, buộc chúng ta cần có các giải pháp cấp bách để hạn chế hậu quả xấu cho hiện tại và các thế hệ mai sau. Hiện nguồn thủy điện của ta khai thác gần như cạn kiệt, làm thay đổi môi trường sinh thái. Các đập thủy điện thượng nguồn sông Mê Kông đã ảnh hưởng làm thay đổi môi trường sinh thực vật dưới hạ lưu đồng bằng sông Cửu Long Việt Nam. Ngoài ra, thủy điện phụ thuộc quá nhiều vào khí hậu và thời tiết từng ngày và không ổn định để đảm bảo sản xuất ra điện năng phát triển công nghiệp bền vững, hiện đại hóa đất nước. Công suất nhà máy thủy điện sử dụng ở mức thấp vì không phải lúc nào cũng đủ lượng nước để chạy hết công suất của nhà máy. Điện gió không cho công suất lớn và công nghệ này phải cần thời gian để hoàn chỉnh và sản xuất điện năng ổn định. Năng lượng mặt trời đã có những tiến bộ vượt bậc về công nghệ ứng dụng, tuy nhiên cần thêm thời gian để sản xuất quy mô lớn. Điện hạt nhân là một trong các giải pháp tốt cho nhân loại để tiếp tục có nguồn năng lượng sạch, ổn định, không phá hoại môi trường, giá cả cạnh tranh và an toàn. Theo thống kê của Bộ Công thương, đến năm 2020, để giữ được tốc độ tăng trưởng kinh tế như hiện nay thì Việt Nam cần thêm ít nhất là 7000MW và có khả năng phải cần đến 13000MW. Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đã huy động các nguồn có sẵn gồm thủy điện, nhiệt điện vẫn không đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng. Hiện tại Bộ Công thương đang có kế hoạch trong 5 năm tới phải nhập khẩu than để chạy nhà máy nhiệt điện. Hiện nay, EVN đang mua điện của các nước láng giềng Trung Quốc, Lào, Campuchia. Tổng số điện đang mua lên đến hàng nghìn MW và có chiều hướng gia tăng. Chính vì thiếu nguồn điện nên Chính phủ Việt Nam chủ trương xây dựng Nhà máy điện hạt nhân để bù vào sự thiếu hụt nguồn năng lượng thiết yếu này. Theo tôi, đây là một chủ trương đúng và rất cần thiết cho an ninh năng lượng quốc gia. Vấn đề an toàn: Hiện nay trên thế giới đang có 500 nhà máy điện hạt nhân đang hoạt động ngày đêm và cung ứng khoảng từ 15 đến 20% tổng số điện sản xuất trên toàn cầu. Trong suốt quá trình 50 năm qua, chỉ có 2 tai nạn nghiêm trọng xảy ra năm 1979 tại Mỹ và 1986 tại Nga. Chúng ta đã rút ra nhiều bài học kinh nghiệm. Tai nạn tại Mỹ chứng tỏ rằng, dù lò hạt nhân bị cháy toàn bộ do lỗi lầm của con người nhưng hệ thống an toàn vẫn hoạt động hiệu quả đúng như thiết kế và không để lại hậu quả nào về môi trường cũng như thiệt hại về con người. Các nhà thiết kế và vận hành đã cải tiến thế hệ thứ II thành thế hệ III, an toàn và hiệu quả gấp nhiều lần. Tai nạn tại Nga năm 1986 là một trường hợp ngoại lệ. Cơ sở hạt nhân này vừa sản xuất điện cũng vừa sản xuất nguyên liệu giàu Uranium phục vụ cho quốc phòng nên đây không hoàn toàn thuần túy là một nhà máy điện hạt nhân. Do vậy việc thiết kế và vận hành không đạt tiêu chuẩn an toàn của một nhà máy điện hạt nhân. Sau tai nạn này, tất cả các nhà máy thuộc loại này đều phải đóng cửa, không hoạt động nữa. Hầu hết các nhà máy điện hạt nhân đang vận hành và xây dựng là các nhà máy điện hạt nhân thế hệ II và III. Qua nghiên cứu của cơ quan Năng lượng quốc tế và các hiệp hội vận hành nhà máy điện hạt nhân, tính toán dựa trên các thông số của các nhà máy điện hạt nhân đang chạy và các dữ liệu để đưa đến vấn đề xảy ra tai nạn gần như là bằng 0, cụ thể là 1x10-5. Vấn đề giá cả và nguồn vốn đầu tư: Tổng giá cả bao gồm vốn đầu tư ban đầu, chi phí vận hành và bảo dưỡng, nguyên liệu đầu vào, phí môi trường, tuổi thọ của nhà máy. Khác hẳn với các nhà máy điện khác, nhà máy điện hạt nhân được thiết kế và chế tạo bởi các nguyên liệu bền, chất lượng cao nên tuổi thọ của nhà máy là 60-80 năm. So với các nhà máy điện khác thì nhà máy điện hạt nhân có tuổi thọ cao gấp đôi. Do vậy, chi phí đầu tư ban đầu về thiết kế, xây dựng là gấp rưỡi các nhà máy nhiệt điện và thủy điện. Nguyên liệu đầu vào rất rẻ so với nguyên liệu đầu vào của nhà máy nhiệt điện như dầu, than, khí thiên nhiên,... và đây là một khoản tiết kiệm chi phí rất lớn cho quá trình vận hành 80 năm của nhà máy điện hạt nhân. Chi phí vận hành bảo dưỡng nhà máy điện hạt nhân là ngang bằng so với nhà máy nhiệt điện. Tuy là nhà máy tối tân nên chi phí vận hành đòi hỏi tiêu chuẩn cao nhưng bù lại, nhà máy sẽ ít bị hư hỏng nên chi phí bảo dưỡng ít. Do các hiệp ước quốc tế Kyoto về vấn đề cắt giảm khí thải để bảo vệ môi trường sống, khác với nhà máy nhiệt điện, thải ra một lượng khí CO­2 lớn và số tiền đóng phí lên tới hàng nhiều chục triệu đô la Mỹ. Phí khí thải này sẽ còn tăng lên hàng năm. Hiện tại từ 15-20USD/tấn, nhưng trong vòng 10 năm tới số tiền này lên đến hàng trăm đô la/tấn CO2. Toàn thế giới đang đứng trước một thảm họa về biến đổi khí hậu và sự nóng lên của trái đất, do đó giải pháp năng lượng nhà máy điện hạt nhân được xem là một giải pháp năng lượng sạch nhằm giảm bớt sự nóng lên của quả địa cầu. Tóm lại, chi phí ban đầu gấp rưỡi các nhà máy nhiệt điện nhưng bù lại tuổi thọ cao gấp đôi, đồng thời các yếu tố kinh tế khác đã được nêu trên sẽ hình thành một giá thành cuối cùng để sản xuất ra một KW điện hạt nhân là rẻ nhất. Do vậy rất nhiều nước trên thế giới hiện nay, đặc biệt là các quốc gia và vùng lãnh thổ như Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan... đang có nhiều nhà máy điện hạt nhân hoạt động rất hiệu quả và an toàn. Họ cũng đang tiếp tục xây dựng nhiều chục nhà máy điện hạt nhân trên nước họ. Đặc biệt là các quốc gia trong khối ASEAN như Thái Lan, Malaisia, Indonesia, Phillipine và Việt Nam đang khởi động xây dựng nhà máy điện hạt nhân để duy trì nền kinh tế đang phát triển cao hàng đầu trên thế giới. Về nguồn vốn đầu tư: Dự án điện hạt nhân là một dự án mang tính chiến lược của quốc gia, giống như các dự án chiến lược chúng ta đã và đang làm như dự án nhà máy lọc dầu Dung Quất, dự án Tàu cao tốc Bắc Nam. Các dự án này đều đòi hỏi một số vốn đầu tư rất lớn và cần huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhau. Điện năng là một nhu cầu thiết yếu, một loại hàng hóa quý giá và cầu luôn luôn nhiều hơn cung. Do biến đổi khí hậu và đây là một dạng năng lượng sạch, được khuyến khích, các nhà đầu tư thuộc lĩnh vực công hoặc tư đều nhận ra một vấn đề là việc thu hồi vốn và lợi nhuận là rất khả thi, rủi ro ít. Do vậy, việc huy động vốn sẽ được nhiều tổ chức tài chính quốc tế ủng hộ. Về đào tạo nhân lực: Trong Hội nghị quốc tế về điện hạt nhân tại Trung tâm hội nghị quốc gia do Bộ Khoa học - Công nghệ, Bộ Công Thương tổ chức vào cuối năm 2008, khách mời gồm các chuyên gia đầu ngành về điện hạt nhân trên toàn thế giới, đặc biệt có sự hiện diện của ông Giám đốc chương trình điện hạt nhân của Tổ chức Năng lượng thế giới. Vị đại diện của cơ quan này khẳng định Việt Nam đã có những chuẩn bị chu đáo và bài bản, và ông cho rằng việc đào tạo các chuyên gia về nhà máy điện hạt nhân tại Việt Nam sẽ được thực hiện một cách hiệu quả. Kỹ thuật điện hạt nhân thuộc công nghệ cao và đặc biệt là tính kỷ luật là một vấn đề cốt lõi để giảm thiểu những rủi ro có thể xảy ra. Qua 20 năm đổi mới, Việt Nam đã có những bước đi rất dài trong lĩnh vực công nghệ cao. Đây là một vốn quý để chuẩn bị cho chúng ta bước vào những nền công nghệ cao khác mà điện hạt nhân là một ngành mà chúng ta đang chuẩn bị thực hiện. Tập đoàn điện lực Việt Nam, Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam, Viện Khoa học Năng lượng Việt Nam, các Tổng Công ty xây dựng Sông Đà, Licogi sẽ là những trụ cột cho các bước khởi đầu để triển khai một ngành công nghệ mới là điện hạt nhân tại Việt Nam. Các trường đại học danh tiếng Việt Nam sẽ cung cấp cho đất nước những người con ưu tú, được đào tạo trong và ngoài nước một cách bài bản và đủ trình độ để thực hiện nhiệm vụ quốc gia giao phó. Hiện tại Việt Nam đang có điều kiện về nhân lực, chính sách không thua kém gì các quốc gia so với trước đây 30 năm như Hàn Quốc, Đài Loan. Tôi tin tưởng rằng khi nhiệm vụ được giao, con người Việt Nam sẽ thực hiện một cách hiệu quả. TS. Đinh Đức Hữu tham dự Hội thảo về điện hạt nhân tại Hà Nội Lựa chọn công nghệ: Hiện nay thế giới đang sử dụng hai công nghệ thuộc loại công nghệ II và III. Sự khác biệt giữa công nghệ II và III là công nghệ thế hệ II sử dụng các hệ thống và thiết bị an toàn có tính chủ động (active), cần rất nhiều bơm, van, đường ống để cung cấp nước giải nhiệt cho lò hạt nhân khi có sự cố. Ngược lại công nghệ thế hệ III sử dụng các thiết bị an toàn có tính thụ động (passive), hệ thống nước giải nhiệt cho lò là được thiết kế và lắp đặt trên đỉnh lò và tự động đổ nước xuống dựa vào nguyên lý sức nặng, nước chảy từ trên độ cao xuống độ thấp và không cần sự trợ giúp của bơm, van. Thiết kế quan trọng này đã tiết kiệm 1/3 tổng số vật liệu xây dựng của lò thế hệ III so với lò thế hệ II và đã nâng hệ số an toàn lên một nghìn lần so với thế hệ II. Hiện nay, Nhật Bản, Hàn Quốc, Pháp, Hoa Kỳ đã có công nghệ thế hệ III và đã xây dựng một số các nhà máy thế hệ III tại Nhật Bản và Hàn Quốc. Riêng Trung Quốc, Pháp chuyển giao công nghệ thế hệ II và Trung Quốc đã và đang xây dựng nhiều nhà máy thuộc thế hệ II. Lý do là Trung Quốc đầu tư rất nhiều tài, vật, lực và cơ sở hạ tầng vào thế hệ II. Và họ đã tự thiết kế và xây dựng các nhà máy thuộc thế hệ II và có chủ trương xuất khẩu nhà máy thế hệ II này cho các quốc gia khác vì đây là thế mạnh của họ trong hiện tại. Mới đây, Trung Quốc đã chọn Hoa Kỳ chuyển giao công nghệ và xây dựng nhà máy đời III+ AP1000 và khoảng vài năm tới thì những nhà máy tối tân này sẽ đưa vào hoạt động. Hoa Kỳ là quốc gia đầu tiên chuyển giao công nghệ cho Pháp, Nhật Bản, Hàn Quốc và mới đây là Trung Quốc rất hiệu quả và thành công. Công nghệ gốc về nhà máy điện hạt nhân, Hoa Kỳ vẫn là quốc gia nắm giữ và các quốc gia trên đã hợp tác với Hoa Kỳ để hoàn thiện và nâng hiệu quả ngành công nghiệp này mỗi ngày một tốt hơn. Theo kinh nghiệm, sự hiểu biết và trách nhiệm của tôi là người Việt Nam, tôi kính đề nghị Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ và các nhà nghiên khoa học, các nhà nghiên cứu về kinh tế, kỹ thuật chọn lựa công nghệ điện hạt nhân an toàn nhất, giá cả cạnh tranh nhất, hiện đại nhất. Việt Nam xây dựng một nhà máy hay xây dựng nhiều nhà máy là câu hỏi đang được đặt ra. Theo thống kê của các nước có nhà máy điện hạt nhân trên thế giới, mô hình xây dựng một nhà máy rồi học tập, rút kinh nghiệm, sau một thời gian mới xây tiếp các nhà máy khác thì chưa từng xảy ra vì các lý do sau: Để huy động vốn đầu tư, nhân lực để thực hiện một công trình có tầm vóc quốc gia thì cần phải có một chính sách và chiến lược đường dài. Chúng ta không thể đào tạo hàng vạn công nhân lành nghề, nhiều tập đoàn để thực hiện một dự án, rồi sau đó phải dừng lại và chờ đợi. Điều này không hiệu quả cao về kinh tế. Đây là một dự án đã được nghiên cứu bởi nhiều cơ quan chức năng và nếu được Quốc hội phê duyệt thì tính khả thi rất cao, tính liên tục và kế hoạch dài hạn đã được hoạch định để xây dựng không những một nhà máy mà là nhiều nhà máy để giải quyết an ninh năng lượng quốc gia./.