Ngàn năm thắng thế của tư tưởng trọng nông ức thương đã tạo ra hai hạng người Việt: nông dân làm ruộng và sĩ phu làm quan. Có một nghịch lý là, dù cho cả đời gắn bó với xóm mạc nhưng người nông thôn chỉ giỏi nghề trồng lúa nước, hầu như không thông thạo lắm nghề chăn nuôi, làm vườn, nghề thủ công và nhất là đối với nghề buôn bán.

Một góc chùa Tây Phương

Còn đối với các sĩ tử, sĩ phu, được dẫn dắt bởi những thày đồ Nho học khô khan, khắc khổ, giáo điều và cổ hủ, dù có hàng chục năm rèn rũa nơi cửa Khổng sân Trình phần lớn chỉ biết xướng họa đôi vần, chỉ có một số ít vươn lên thành văn nhân tài tử có đôi ba tác phẩm văn chương hoặc cao hơn có ít nhiều đóng góp cho công việc bang giao, kinh bang tế thế. Vai trò phản biện xã hội của họ gần như bị triệt tiêu.

Tại sao lại như vậy? Đó là vì dù là những nông dân thuần khiết hay những sĩ phu thì họ vẫn chung một điểm xuất phát: những ngôi làng gần như hoàn toàn khép kín mà ở đó tính tự trị được nêu rất cao bởi sự bảo hộ của Hương ước - một sức mạnh khiến cho phép vua cũng thua lệ làng. Chính vì thế, cả người nông dân và những người sau này trở thành lớp sĩ phu qua lại đều mang nặng tư tưởng cũng như nền văn hóa tiểu nông manh mún, thiển cận.

Dưới thời thuộc Pháp, xã hội Việt Nam phân hóa mạnh mẽ, không chỉ có hai loại người hoặc hai loại nghề như trước nữa. Nhiều người trở thành thợ thuyền nơi hầm mỏ, công xưởng, bến tầu, nhà ga hoặc trong các đồn điền. Lại xuất hiện đông đảo tầng lớp thương nhân, viên chức các sở công và tư, nhà văn, nhà báo, thày thuốc. Trong khi, ở nhà quê người nông dân vẫn chìm đắm trong cung cách tiểu nông cũ kỹ thì những tầng lớp khác tiếp cận và ngày càng chịu nhiều ảnh hưởng của nền văn minh phương Tây. Những phần tử ưu tú trong các tầng lớp này đã ngày một đảm đương một cách hữu hiệu việc tiếp thu tinh túy của nền văn minh nhân loại, có nhiều đóng góp cho sự nghiệp giải phóng và xây dựng của dân tộc Việt Nam.

Cũng trong ngàn năm lịch sử của nền văn hóa tiểu nông ấy, dân tộc Việt Nam đã để lại một di sản văn hóa tuy không thật đồ sộ nhưng cũng rất đáng tự hào đối với các phương diện nghệ thuật kiến trúc, âm nhạc, văn chương, điêu khắc, hội họa cũng như những tập tục về ẩm thực, trang phục, hội hè, cung cách tổ chức gia đình, các kiến thức về y học với nhiều nét mang bản sắc rất riêng.

Khái niệm về di sản văn hóa vốn bề bộn và ngổn ngang. Phải chăng đó là những gì còn lại, những tinh túy mà một dân tộc đã chắt chiu gìn giữ hay là toàn bộ những gì còn được lưu giữ cho đến tận ngày nay…?

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của đất nước, thực chất là một sự khẳng định và tiếp nối những vấn đề đã được đặt ra từ Nghị quyết Trung ương 5, khóa VIII về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Nhưng điều còn băn khoăn là ở thời kỳ hội nhập, bản sắc văn hóa, di sản văn hóa phải được hiểu như thế nào cho đầy đủ và đúng. Nhất là trước những định đề về việc phải xây dựng cơ chế để giải quyết hợp lý, hài hòa giữa bảo tồn, phát huy di sản văn hóa với phát triển kinh tế - xã hội.

Phải chăng, việc khai thác di sản văn hóa trong những năm trước đây được triển khai đều khắp, ồ ạt và có phần bừa bãi, vụ lợi, tự phát, thiếu cơ sở khoa học chưa trở thành mối nguy hại và lời cảnh tỉnh sâu sắc. Chúng ta không nhớ rằng lối ứng xử với di sản văn hóa hoàn toàn khác với lối ứng xử trước những báu vật hữu hình của các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể như Nghị quyết đã từng liệt kê (các di tích lịch sử và văn hóa tiêu biểu, các loại hình nghệ thuật truyền thống, các di sản văn hóa được UNESCO công nhận) bởi lẽ đó chỉ là phần nổi trong cái kho báu mà tiền nhân để lại, hoặc nói khác đi, đó là những tinh hoa dễ nhận biết nhất. Di sản văn hóa - trong đó phần lớn là những thứ khó sinh ra của cải vật chất như cách nghĩ thông tục vì nó là của cải tinh thần, những thói quen của cộng đồng đang chi phối từng con người trong cuộc sống. Nó cũng là những di sản văn hóa vô hình đang và sẽ tác động tới phát triển, thì cơ chế nào đây sẽ ra đời để chế ngự, điều hướng, bảo tồn và phát huy. Đây cũng là một câu hỏi rất cần có sự giải đáp thỏa đáng.

Trong một xã hội mà tính chất tiểu nông còn quá nặng, giới trí thức còn ngần ngại đảm nhận vai trò phản biện xã hội thì những vấn đề gì thuộc về văn hóa và di sản văn hóa chắc chắn cần được nghiên cứu, tổng kết sâu sắc hơn nữa, nếu như muốn nó thật sự có những tác động mạnh mẽ. Chưa đạt được tới chuẩn mực ấy, chưa kéo được giới trí thức vào vai trò phản biện, có lẽ khó tránh được sự phiến diện, hời hợt trước những cửa ải mà trí tuệ con người phải vươn tới cho bằng được.

TS. Khổng Đức Thiêm