(TBKTSG Online) - Ngưỡng nợ công tối ưu bình quân giai đoạn 2014 – 2020 đang được đề xuất lên 68% GDP, trong khi mức mà Quốc hội đặt ra đang là 65% GDP.

Tư Hoàng

Chi đầu tư phát triển ngày càng eo hẹp. ảnh TG

Đây là đề xuất về ngưỡng nợ công và trần nợ công của Học viện Chính sách và Phát triển thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư trong đề án “Xác định phạm vi nợ công và trần nợ công an toàn của Việt Nam giai đoạn 2014 – 2020”.

Các tác giả của đề án này cho rằng, kết quả nghiên cứu và kiểm định bằng mô hình kinh tế lượng về mối quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế Việt Nam với chuỗi số liệu từ 1995 – 2013 cho thấy, khi tỷ lệ nợ công/GDP nhỏ hơn hoặc bằng 68% thì nợ công có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế và tính bền vững của chính sách tài khóa.

Ngoài ra, khi tỷ lệ này lớn hơn 68% thì nợ công sẽ làm giảm động lực đầu tư phát triển, kìm hãm tăng trưởng kinh tế và làm suy giảm khả năng trả nợ và mức độ an toàn của nợ công.

Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Thu cho biết tại hội thảo cùng tên được tổ chức sáng 13/11 tại Hà Nội, đề án này nhằm xây dựng các cơ sở, luận chứng khoa học, tổng hợp kinh nghiệm quốc tế về nợ công; đề xuất phạm vi xác định nợ công, ngưỡng nợ công và trần nợ công an toàn của Việt Nam giai đoạn 2014 – 2020.

Đánh giá tổng quát về mức độ an toàn nợ công, báo cáo khẳng định: “Nợ công của Việt Nam hiện nay có mức độ rủi ro vỡ nợ thấp nhưng còn tiềm ẩn nhiều rủi ro khác nên triển vọng là không bền vững".

Để bảo vệ quan điểm “rủi ro vỡ nợ thấp”, báo cáo đưa ra hàng loạt lý do.

Thứ nhất, nợ vay trong nước (50,99 % tổng nợ công) có tỷ trọng cao hơn nợ vay nước ngoài, có xu hướng tăng, tuy kỳ hạn nợ ngắn phải đảo nợ nhưng mức độ đảm bảo thanh toán cao.

Thứ hai, nợ vay nước ngoài có xu hướng giảm và mức độ rủi ro rất thấp so với tiêu chuẩn an toàn của IMF và WB. Rủi ro rút vốn của nợ nước ngoài rất thấp, an ninh tài chính quốc gia được đảm bảo.

Thứ ba, ngưỡng nợ công (tỷ lệ nợ công/GDP) tính theo Luật Quản lý nợ công là 54,2% (2013) và 59,9% (ước 2014); tính theo đề xuất của nhóm nghiên cứu là 61,28% (2013) và 65,2% (ước 2014) vẫn ở mức mục tiêu kiểm soát nợ công của Chính phủ (65%).

Cuối cùng, hệ số tín nhiệm quốc gia của Việt Nam về phát hành nội tệ, ngoại tệ và trần nợ hiện nay đang được Fitch Ratings, Moody’s và S&P đánh giá ở mức BB- và B1 và có triển vọng ổn định. Điều đó có nghĩa là có rủi ro nhưng vẫn ở mức an toàn và chưa có nguy cơ lâm vào khủng hoảng nợ công.

Tại hội thảo, tiến sĩ Lê Xuân Nghĩa cho rằng vấn đề của nợ công không phải là ở tỷ lệ nào so với GDP mà sử dụng vốn nợ công có hiệu quả không.

“Nếu vay với lãi 3% mà làm ra 5% thì chẳng có gì lo ngại, chỉ sợ vay 5% làm ra 3%”, ông nói.

Ông Nghĩa nhận xét, rủi ro nợ công còn bị ảnh hưởng bởi nợ xấu ngân hàng, vì nợ xấu có tác động rất lớn vào nợ công.

Ông giải thích: “Nếu ngân hàng nào đó phá sản, Chính phủ (NHTW) phải trả tiền gửi… Các DNNN, nhất là DN lớn phá sản Chính phủ không thể làm ngơ”.

“Điều quan trọng là nếu không xử lý triệt để nợ xấu thì GDP không tăng trưởng trở lại từ 7% trở lên, khi đó nguy cơ nợ công lớn.

“Vấn đề nợ công là vấn đề nợ xấu, nếu giải quyết nợ xấu tốt, tăng trưởng 7% thì nợ công Việt Nam không có vấn đề gì. Nếu tăng trưởng lẹt đẹt 5-6% thì nợ công trong vài năm tới rất phức tạp”, ông cảnh báo.

Ông Phạm Xuân Hòe, Phó Vụ trưởng Vụ Tài chính ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước nhận xét Mỹ phải bỏ ra 431 tỉ đô la cứu hệ thống tài chính; Thái Lan bỏ ra 17,75 tỉ đô la Mỹ cứu thị trường tài chính.

“Nếu không xử lý ngay thì cơ hội tăng trưởng cao hơn sẽ khó khăn, nếu không quyết tâm xử lý nợ xấu sẽ tụt hậu”, ông Hòe nói.

‘’Nếu không giải phóng được tư tưởng, nếu còn tranh luận xử lý bằng nguồn nào ở đâu, nếu còn để dai dẳng thế này thì còn khó,” ông Hòe nói thêm.

Xem thêm:

Nợ công: Không còn là vấn đề của tương lai