(Chinhphu.vn) - Nhân chuyến đi thực tế tìm hiểu về Dự án hợp tác công-tư phát triển bền vững cây ca cao tại Việt Nam, chúng tôi mới thấy được loại cây trồng này đang đem lại hiệu quả kinh tế cao cho bà con Tây Nguyên, nhất là đồng bào các dân tộc thiểu số.

Chị H’Bim bên những trái ca cao mới được thu hoạch. Ảnh: VGP/Quang Minh

Từ chỗ phải đi hái măng, nhặt phân bò bán để lấy tiền mua gạo ăn trong những ngày giáp hạt, đến nay gia đình chị H’Bim B’krông, dân tộc M’nông ở buôn Phôk, xã Yang Tao, huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk đã có của ăn của để.

Gặp chúng tôi, chị H’Bim nói: “Mảnh đất khoảng 1 ha xung quanh nhà trước đây tôi chỉ trồng bắp và mấy sào ruộng trồng lúa, hằng năm không đủ ăn, mỗi khi giáp hạt, phải vào rừng hái măng, mùa khô thì đi nhặt phân bò bán để lấy gạo ăn. Từ khi được Tổ chức Hợp tác và Phát triển nông nghiệp quốc tế đưa cây ca cao về trồng, đồng thời hỗ trợ giống, chuyển giao kỹ thuật nên tôi đã chuyển toàn bộ đất trồng bắp sang trồng ca cao”.

Hiện vườn nhà chị có 900 cây, trong đó 400 cây đã cho thu hoạch. Năm ngoái, trừ chi phí chị đã thu được 50 triệu đồng từ vườn ca cao, năm nay (2013), trừ chi phí cũng cho thu nhập gần trăm triệu đồng.

Ông Y Viết Nia, người cùng buôn và là thành viên của Câu lạc bộ ca cao xã Yang Tao chia sẻ, từ khi có cây ca cao, gia đình ông không còn nghèo đói như trước nữa. Còn câu lạc bộ giờ đã thu hút được khoảng 80 thành viên là người dân tộc thiểu số tham gia.

Theo ông Thái Xuân Quang, Chủ nhiệm HTX Nông nghiệp sản xuất, chế biến và tiêu thụ ca cao Ea Kar (huyện Ea Kar) cho biết, HTX bắt đầu trồng ca cao từ năm 2007 theo mô hình trồng xen và trồng thuần đã đem lại lợi ích kinh tế cao cho bà con, thu nhập của bà con đã tăng lên gấp đôi so với trồng điều trước kia.

Tổ chức Hợp tác và Phát triển nông nghiệp quốc tế (ACDI/VOCA) là tổ chức phi chính phủ, hoạt động trong lĩnh vực phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn. Tại nước ta, Tổ chức này triển khai Dự án phát triển sản xuất ca cao bền vững tại các nông hộ (SCF) từ năm 2006-2010.

Năm 2012, trên cơ sở thành công của Dự án này, Chính phủ Hà Lan cùng các đối tác gồm: Rabobank, Mars, Cargill, IDH đã ký kết với Bộ NNPTNT Dự án Hợp tác công-tư phát triển ca cao bền vững tại Việt Nam trị giá gần 1,4 triệu EURO.

Dự án hỗ trợ toàn diện, từ khâu nghiên cứu, lai chọn, tạo giống, quy trình trồng, chăm sóc và đặc biệt quy trình chế biến nhằm mục đích nâng cao chất lượng và giá trị cây ca cao trên một diện tích, góp phần tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo cho người dân và bảo vệ môi trường một cách bền vững. Đắk Lắk là địa phương đầu tiên được chọn để triển khai. Dự án được kỳ vọng là cú hích quan trọng cho ngành ca cao các địa phương phát triển.

Ông Nguyễn Bá Dũng, cán bộ phụ trách phát triển cây ca cao của Công ty TNHH Cargill Việt Nam cho biết, trước đây để khuyến khích người dân trồng cây ca cao, Công ty thường hỗ trợ cây giống miễn phí. Còn hiện tại, để giúp người dân chăm sóc tốt vườn ca cao Công ty chuyển sang hỗ trợ kỹ thuật chăm sóc và phân bón, sau đó, người dân sẽ bán lại hạt ca cao cho Công ty.

Nếu như người trồng cà phê ở Tây Nguyên đang gặp những khó khăn như việc giá cà phê không ổn định, giá các loại vật tư như phân bón, xăng, dầu, thuốc bảo vệ thực vật... đều tăng cao, thì ca cao tại đây đang được xem như một luồng sinh khí mới.

Phó Giám đốc Sở NN PTNT Đắk Lắk, ông Huỳnh Quốc Thích, cho biết phần lớn diện tích ca cao mới trồng trên địa bàn đều là giống ca cao ghép nhập nội. Đây là giống ca cao khá thích nghi với điều kiện đất đai, khí hậu ở địa phương, ít sâu bệnh, kích cỡ hạt lớn và được thị trường nước ngoài ưa chuộng.

Vài năm trở lại đây, giá ca cao tăng cao (từ 45.000-60.000 đồng/kg hạt khô), ổn định nên thu hút người dân các dân tộc đầu tư phát triển cây ca cao. Đáng chú ý, cây ca cao phát triển nhanh ở những vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn, hiện nhiều hộ đã có thu nhập mỗi năm hàng chục triệu đồng từ cây ca cao.

Đắk Lắk đã có hơn 2.500 ha ca cao, chủ yếu trồng ở những diện tích đất không thể tái canh lại cà phê. Hiện tỉnh đang tiếp tục rà soát, bổ sung quy hoạch vùng sản xuất ca cao để trồng mới, đưa diện tích cây ca cao tăng lên khoảng 6.000 ha vào năm 2015…

Nhìn cách chị H’Bim và những nông dân cùng buôn chăm sóc cây, sơ chế và bảo quản hạt ca cao mới thấy được sự khác biệt. Những mẹt ca cao sạch sẽ được phơi trên giàn cao, việc chăm bón, thu hái, sơ chế và bảo quản hạt cây ca cao cũng khá bài bản, đúng quy trình khiến chúng tôi tin rằng cây ca cao Việt Nam chắc chắn sẽ được khẳng định vị trí trên thị trường thế giới.

Quang Minh-Mạnh Hùng