QĐND - Những ngày tháng 4, khi nắng vàng rót đều trên khắp triền đá tai mèo miền cực Bắc và đốt cháy những chùm hoa gạo rực đỏ thì chúng tôi trở lại Hà Giang tìm gặp ông Vừ Mý Kẻ, một nhân vật lịch sử của miền đá trời để được nghe câu chuyện xưa vọng về.

QĐND - Những ngày tháng 4, khi nắng vàng rót đều trên khắp triền đá tai mèo miền cực Bắc và đốt cháy những chùm hoa gạo rực đỏ thì chúng tôi trở lại Hà Giang tìm gặp ông Vừ Mý Kẻ, một nhân vật lịch sử của miền đá trời để được nghe câu chuyện xưa vọng về.

Người mã phu trong nhà vua Mông

Vừa nhấp chén rượu ngô thơm nồng, ông Vừ Mý Kẻ vừa hồi tưởng lại câu chuyện hơn nửa thế kỷ trước. Ông sinh ra ở Sà Phìn, Đồng Văn, Hà Giang, nếu tính tuổi ta, năm nay ông đã bước sang tuổi 85 rồi nhưng ông vẫn nhớ lắm một thời hào hùng và bi tráng của Đồng Văn xưa.

Ông Kẻ sinh ra sớm mồ côi và phải đi làm mã phu (chăn ngựa) cho nhà vua Mông Vương Chí Sình từ khi còn rất nhỏ. Đến tuổi thanh niên, ông được giác ngộ cách mạng và đi theo Đảng, theo Bác Hồ. Từ năm 1951, ông được giao làm Chủ tịch Ủy ban kháng chiến xã Sà Phìn, 5 năm sau ông được cách mạng phân công làm Chủ tịch Ủy ban hành chính huyện Đồng Văn (khi đó bao gồm cả Yên Minh, Quản Bạ, Mèo Vạc) và sau đó ông lại được cử làm Phó chủ tịch UBND tỉnh Hà Tuyên. Suốt những năm tháng làm lãnh đạo, bàn chân ông đã leo qua hàng vạn mỏm đá tai mèo sắc nhọn, bàn tay ông đã cầm cuốc, xẻng đến chai sạn để hướng dẫn đồng bào cách trồng ngô, trồng lúa. Cứ như vậy, ông trở thành thủ lĩnh tinh thần của người Mông lúc nào không hay.

Cụ Vừ Mý Kẻ kể chuyện Đồng Văn năm xưa (ảnh chụp tháng 4-2013).

Năm 1960, nước ta bầu cử Quốc hội khóa II, tỉnh Hà Giang có 2 ứng cử viên trúng cử là cụ Vương Chí Sình và Vừ Mý Kẻ. Lúc này, Vừ Mý Kẻ mới 33 tuổi đã trở thành người đại diện cho hàng vạn đồng bào vùng cao nguyên đá cho tới tận hết nhiệm kỳ Quốc hội khóa VII.

Năm 1989, ông nghỉ hưu trở về với hai bàn tay trắng như bao người đàn ông Mông chất phác khác. Sau mấy chục năm cống hiến cho cách mạng và nhân dân, cựu Phó chủ tịch UBND tỉnh về nhà vay tiền mua một con lợn làm đám cưới cho con. Cuộc sống cứ thế kham khổ trôi đi, nhưng với ông là một sự thanh thản, nhẹ nhàng và đầy ắp hạnh phúc vì những gì đã làm được. Cả cuộc đời phụng sự quê hương, đất nước, ông không giữ lại gì cho mình ngoài mấy tấm hình chụp chung với Đại tướng Võ Nguyên Giáp, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng… Ông làm cách mạng vô tư, trong sáng như sương sớm đọng lại trên triền đá tai mèo và khi về với cuộc sống đời thường lại bình dị, thanh thản vô cùng.

Con đường Hạnh Phúc

Thế gian này có những con đường mang tên thật đặc biệt, đó là con đường mang tên Hạnh Phúc ở miền cao nguyên đá của tỉnh Hà Giang. Cái tên được chính Bác Hồ đặt cho Quốc lộ 4C dài 185km từ thị xã Hà Giang lên 4 huyện vùng cao núi đá Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn và Mèo Vạc. Hơn 50 năm sau ngày khởi công làm con đường Hạnh Phúc (10-1959), cuộc sống của hàng vạn đồng bào nơi miền cực Bắc đã thay đổi nhờ có đường. Câu chuyện bi tráng của một thời oanh liệt xẻ núi đá, ngăn vực sâu làm đường của nhân dân 8 tỉnh Cao-Bắc-Lạng, Thái-Hà-Tuyên và Hải Hưng, Nam Định sẽ còn được kể mãi. Hàng vạn lượt người, từ năm 1959 đến năm 1966 đã tay búa, tay choòng phá đá một cách thủ công nhất, trong thời gian hơn 2 triệu ngày công để mở đường lên cao nguyên Đồng Văn - Mèo Vạc, nơi hoang sơ chỉ có lối mòn cho ngựa thồ và người đi bộ. Khi đó huyện Đồng Văn rộng lớn, bao gồm cả Quản Bạ, Yên Minh và Mèo Vạc, nhiều người Mông nói rằng, bao giờ đá mọc trên đầu người được, con trâu đực đẻ con được thì cách mạng mới làm được đường lên cao nguyên đá.

Đường Hạnh Phúc lên cao nguyên đá.

Tháng 10-1959, Bác Hồ cho khởi công con đường và giao trọng trách cho ông Vừ Mý Kẻ khi đó là Chủ tịch Ủy ban hành chính huyện Đồng Văn lãnh đạo, vận động đồng bào tham gia làm đường. Tháng 12-1959, nhiều toán phỉ đã chiếm các cổng trời Cán Tỷ, Mã Pí Lèng, Quản Bạ để ngăn không cho làm đường lên cao nguyên đá. Chúng cướp cửa hàng lương thực Lũng Phìn, giết cán bộ đem rán mỡ để răn đe nhân dân. Ngay sau đó, Bác Hồ đã cử tướng Chu Văn Tấn, Chủ tịch Khu ủy Khu tự trị Việt Bắc đưa quân đội cùng hơn 1000 thanh niên lên hỗ trợ việc làm đường. Tới năm 1964, đường Hạnh Phúc thông tới Đồng Văn, tướng Phan Trọng Tuệ, Chính ủy Đoàn 559 kiêm Bộ trưởng Bộ Giao thông, đã lên cắt băng khánh thành con đường trong niềm vui vỡ òa của hàng vạn đồng bào. Hai năm sau, con đường được làm tiếp tới Mèo Vạc dưới sự chỉ đạo trực tiếp của ông Sùng Tài Dùng, Chủ tịch Ủy ban hành chính huyện Mèo Vạc (nay con trai ông là Sùng Đại Hùng đang làm Bí thư Huyện ủy Đồng Văn)...

Suốt những năm tháng gian khó ấy, ông Kẻ cùng với cán bộ, đồng bào, thanh niên xung phong đã lăn lộn hàng triệu ngày công để xẻ núi, ngăn sông, phá đá làm đường cùng với chống lại quân phỉ tàn ác… Cuộc sống của hàng vạn đồng bào đã đổi thay và tâm nguyện suốt đời phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân của ông đã toại nguyện…

Chuyện nhà họ Vương

Chúng tôi chạy xe theo con đường Hạnh Phúc, qua khu vực có hàng chữ Công viên địa chất cao nguyên đá Đồng Văn là bắt đầu chới với ngược đỉnh dốc cùng những đoạn cua uốn vẹo cả xương sống. Lên tới đỉnh đèo nhìn xuống con đường như sợi chỉ xuyên qua tầng tầng, lớp lớp núi đá. Qua Quản Bạ, đến địa phận Yên Minh, món đặc sản đá bắt đầu ngày càng nhiều hơn. Đá tai mèo lởm chởm dãy nọ xếp lên dãy kia, xen lẫn trong đá là những thân ngô đã ngả vàng sau thu hoạch. Thấp thoáng trong xám ngắt màu đá có bản làng người Mông lúp xúp những ngôi nhà trình tường, mái lợp ngói âm dương ngả màu thời gian...

Chúng tôi đến Sà Phìn để chiêm ngưỡng dinh thự cổ của nhà họ Vương. Sà Phìn là một thung lũng nhỏ, tròn cạnh góc, địa thế được xem là có một không hai giữa cõi đá mênh mông bạt ngàn. Chừng vài chục căn nhà với một cái chợ lúp xúp bên dưới, phía trên quả đồi hình mai rùa là hàng cây sa mộc ngót trăm tuổi được nhà họ Vương mang về từ Trung Quốc. Dưới tán cây sa mộc là những ngôi mộ của gia tộc trong đó có mộ Vương Chí Sình (hay còn gọi là Vương Chí Thành - tên do Bác Hồ đặt). Một dinh thự cổ với nhiều khu phòng hiện ra được xây dựng bởi thủ lĩnh Vương Chính Đức.

Thung lũng Sà Phìn hôm nay.

Sinh năm 1865, Vương Chính Đức sớm trở thành thủ lĩnh của người Mông nhờ tài năng hơn người. Năm 1923, Vương Chính Đức được vua Khải Định sắc phong làm Bang Tá và trao tặng bức hoành phi “Biên chính khả phong”. Đồng thời nhận lãnh cai quản suốt một vùng đá bạt ngàn kéo dài từ Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn đến Mèo Vạc. Vương Chính Đức có tất cả 3 bà vợ, Vương Chí Sình là con thứ trong số 4 người con trai, nhưng nổi tiếng nhờ thông minh và tài thao lược giống bố, nên sau này kế tục được cha mình. Vương Chí Sình có công rất lớn khi cùng lực lượng Việt Minh đánh đuổi quân Pháp khỏi vùng cao nguyên đá và nhiều vùng lân cận trong khu vực Bắc và Đông Bắc Tổ quốc. Cuối năm 1945, Vương Chí Sình được mời về Hà Nội yết kiến Chủ tịch Hồ Chí Minh, và được Cụ Hồ nhận kết nghĩa anh em, đổi tên là Vương Chí Thành. Sau đó, ông “vua Mông” đã trở thành đại biểu Quốc hội khóa I và II. Bác Hồ đã từng gửi tặng Vương Chí Sình 8 chữ "tận trung báo quốc, bất thụ nô lệ" khắc trên thanh đại đao để tỏ lòng quý trọng.

Chúng tôi rời nhà Vương trong khi chiều vừa tắt nắng, bỗng ngổn ngang suy nghĩ về huyền sử miền cõi đá lưng trời, về gia tộc họ Vương và ông vua của người Mông khắp dải biên giới phía Bắc...

Bài và ảnh: HOÀNG TRƯỜNG GIANG