- Cuối tuần này, Thông tư 13 – văn bản pháp lý đã gây tranh luận và phản biện dữ dội từ phía các chuyên gia kinh tế, các nhà đầu tư và ngân hàng - sẽ có hiệu lực.

Điểm gây tranh cãi khá nhiều của Thông tư 13 khi mới ban hành là tỷ lệ sử dụng vốn 80%. Cụ thể, theo nội dung thông tư, nguồn vốn huy động sử dụng để cho vay không bao gồm tiền gửi không kỳ hạn của tổ chức kinh tế, Kho bạc Nhà nước, Bảo hiểm Xã hội và các tổ chức khác. Có thêm lượng tiền được tính vào vốn huy động? Trong văn bản mới nhất trình Chính phủ, khái niệm nguồn vốn huy động sẽ được chỉnh sửa theo hướng mở rộng hơn: thay vì loại trừ lượng tiền gửi không kỳ hạn đưa ra khỏi nguồn vốn huy động, tới đây các tổ chức tín dụng sẽ được phép dùng 15% tiền gửi không kỳ hạn để bổ sung cho nguồn vốn cho vay. Tiền gửi của Kho bạc Nhà nước tại các tổ chức tín dụng cũng được tính vào nguồn vốn huy động. Đồng thời các khoản vay của các tổ chức tín dụng có kỳ hạn 3 tháng trở lên cũng được tính là nguồn vốn huy động có thể cho vay. Với các NH quốc doanh, có nguồn tiền gửi không kỳ hạn của các tổ chức và tiền gửi kho bạc lớn, hướng sửa sắp tới của NH Nhà nước sẽ giúp tỉ lệ cho vay trên huy động về gần hơn với quy định 80% của Thông tư 13. Còn với các NH cổ phần, họ chỉ hy vọng vào nguồn vay trên thị trường 2 để bổ xung cho lượng tiền đưa vào kinh doanh. Ngoài sửa đổi về lượng tiền được tính vào nguồn vốn huy động của hệ thống NH thương mại kể trên, các điều kiện khác, theo như nội dung quy định ban đầu, vẫn được NHNN kiên quyết bảo lưu: Quy định tăng hệ số an toàn vốn (CAR) từ 8% lên 9% vẫn giữ nguyên. NH thương mại vẫn không được cho vay quá 80% vốn huy động và hệ số rủi ro tối đa với cho vay bất động sản và chứng khoán vẫn giữ ở 250%. Thời hạn áp dụng thông tư 13 vẫn là 1/10. Liệu có gia tăng rủi ro về kỳ hạn? Mục đích của các NH khi “đòi” được tính thêm khoản tiền ngắn hạn vào vốn huy động là để tăng lượng tiền cho vay mà vẫn bảo đảm tỷ lệ 80%, nhằm giảm lãi suất theo chỉ đạo của Chính phủ. Tuy nhiên, theo như khảo sát thực tế cho thấy: các ngân hàng thường tập trung cho vay nhằm phục vụ các nhà đầu tư và kinh doanh bất động sản hơn là cho các doanh nghiệp sản xuất. Do đó, các chuyên gia cho rằng dù có tăng thêm lượng tiền vào khả năng cung tiền của các ngân hàng thương mại thì khả năng hạ lãi suất là khó xảy ra. Thay vào đó, một lượng tiền lớn sẽ tiếp tục đổ vào các kênh cho vay chứng khoán, kinh doanh bất động sản. Cho dù hệ số rủi ro an toàn vốn của hai lĩnh vực này, theo Thông tư 13, đã được điều chỉnh lên 250%, nhưng do mức lợi nhuận kỳ vọng ở phân khúc thị phần này này lên đến 30 -40% so với mức lợi tức có thể đạt được nếu cho vay sản xuất chỉ đạt tối đa 15% nên vẫn hút một lượng tiền lớn. Khi Thông tư 13 mới ban hành, chưa đến thời điểm áp dụng, nhiều ý kiến của các lãnh đạo Ngân hàng đã cho rằng: quy định không tính lượng tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi của kho bạc vào lượng vốn huy động sẽ cản trở các NH trong việc tăng trưởng tín dụng. Nhưng bằng việc cho phép 15% lượng tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 3 tháng vào nguồn vốn kinh doanh, hệ thống NH thương mại sẽ phải đối mặt với sự gia tăng của rủi ro về kỳ hạn do các khoản vay thương mại thường có kỳ hạn dài hơn so với kỳ hạn của khoản tiền từ kho bạc và các tổ chức kinh tế ký gửi trong lúc nhàn rỗi. Đó là chưa kể tới "tính đặc thù" của các NH trong nước là luôn cho vay với tỷ lệ rất cao, có khả năng mất thanh khoản nếu như nguồn tiền gửi không kỳ hạn đột ngột bị rút ra khỏi hệ thống. Có lẽ hơn ai hết, NHNN biết rõ vòng quay vốn ở các NH tương mại nên đã đưa ra tỷ lệ 80% vốn huy động nhằm đảm bảo thanh khoản hệ thống. Việc chỉnh sửa Thông tư 13 vào phút chót trước thời điểm có hiệu lực dường như NHNN muốn phát đi “tin hiệu” về yêu cầu nhất thiết phải tăng độ an toàn cho toàn hệ thống hơn là đạt được mục tiêu trước mắt. Thực tế, NHNN còn nhiều công cụ khác để điều chỉnh để tiến tới lộ trình nâng hệ số an toàn cho toàn hệ thống vào đầu năm tới ./. T.H