Tại cuộc họp trực tuyến tổng kết thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình (HN&GĐ) hôm qua (16-4), PGS.TS Nguyễn Viết Tiến - Thứ trưởng Bộ Y tế đã có tham luận đề xuất cho phép kết hôn đồng tính vì nó là quyền được sống thực với gì mình có - đó là quyền con người.

Một số đề xuất khác của Bộ Y tế về dự Luật sửa đổi này liên quan đến y học và nhu cầu thực tế, cả ở khía cạnh pháp luật và đạo đức, như cho phép mang thai hộ, cho phép người nhiễm HIV được thực hiện các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản…, được xem là mạnh dạn, thực tế.

Đồng giới không phải là bệnh

Đề xuất của Bộ Y tế không bất ngờ vì một số cơ quan cũng kiến nghị Bộ Tư pháp sửa đổi Luật HN&GĐ theo hướng chấp nhận hôn nhân đồng tính. Các nghiên cứu khoa học đều khẳng định đồng tính không phải là bệnh. Đây là một xu hướng tính dục tự nhiên như xu hướng dị tính và song tính. Từ năm 1990, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã loại bỏ đồng tính ra khỏi danh sách bệnh tâm thần.

Thứ trưởng Tiến cho biết: Ở góc độ y tế, đồng tính nữ, đồng tính nam, song tính và chuyển giới (gọi chung là người đồng tính) không phải là một loại bệnh. Vì vậy y học không thể can thiệp và cũng không thể chữa khỏi.

Theo quan điểm của Bộ Y tế, đứng ở góc độ quyền con người, người đồng tính cũng có quyền sống, quyền ăn, ở, mặc, quyền được yêu thương và mưu cầu hạnh phúc. Ở góc độ quyền công dân, họ được lao động, học tập, khám bệnh, chữa bệnh, khai sinh, khai tử, kết hôn…. có quyền và thực hiện các nghĩa vụ với Nhà nước và xã hội.

Người đồng tính do chưa được xã hội và pháp luật Việt Nam thừa nhận thường không dám công khai giới tính thực của mình vì sợ sự kỳ thị, xa lánh từ người thân, bạn bè, đồng nghiệp. Chính sự lừa dối này gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng cho những người trong cuộc. Người đồng tính có thể bị bạo lực thể xác, bạo lực tâm lý, bạo lực tình dục và các hình thức ép đi chữa bệnh tâm thần (!).

Hiện có hơn 20 quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới đã công nhận kết hôn đồng giới. Hạ viện Pháp tháng 2 vừa qua đã thông qua dự luật hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính. Hôn nhân được định nghĩa lại, hiểu là giao ước giữa "hai người” chứ không nhất thiết là giữa một đàn ông và một phụ nữ. Các cặp kết hôn đồng tính có quyền nhận con nuôi.

Nên cho phép mang thai hộ

"Mang thai hộ” là sau khi lấy noãn của người vợ vì lý do sức khỏe mà không thể mang thai và tinh trùng của người chồng thụ tinh trong ống nghiệm thành phôi, sẽ chuyển phôi vào dạ con của người phụ nữ khác.

Luật HN&GĐ năm 2000 chưa quy định về mang thai hộ. Tuy nhiên, thực tế nhu cầu "mang thai hộ” là có thật và khá phổ biến, nguyện vọng chính đáng đối với các trường hợp vì bệnh lý như dị tật bẩm sinh không có tử cung, u xơ tử cung, suy tim, gan, thận, tai biến sản khoa phải cắt tử cung.

Thứ trưởng Tiến cho biết: Cho phép "mang thai hộ” không phải là cho phép "đẻ thuê” và người mang thai hộ không vì mục đích lợi nhuận. Mang thai hộ là một thành tựu của y học, có thể nói là một tiến bộ vượt bậc để biến mơ ước không thể làm mẹ của rất nhiều phụ nữ được trở thành hiện thực. Mặt khác, dưới phương diện sinh học thì trong trường hợp mang thai hộ, đứa bé ra đời từ mang thai hộ mang gien di truyền của người phụ nữ có trứng thụ tinh chứ không phải của người mang thai.

Để hiện tượng này phát triển đúng hướng, đúng ý nghĩa xã hội, pháp luật cần phải điều chỉnh quan hệ này một cách kịp thời, cụ thể. Bộ Y tế đề xuất Luật HN&GĐ quy định cho phép mang thai hộ trong một số trường hợp nhưng không vì mục đích thương mại, có cơ chế kiểm soát chặt chẽ và sự đồng ý của một Hội đồng gồm các chuyên gia về sản khoa và pháp luật.

Không nên coi đề xuất cho phép kết hôn đồng tính hay mang thai hộ đơn thuần là hành xử khoan dung. Đó là quyền sống tất yếu của mỗi con người…

Kim Vân