Chính sách cơ chế chưa kích thích phát triển nền kinh tế tri thức, sáng tạo. Quá trình công nghiệp hóa của Việt Nam không thể dựa vào các DN có vốn đầu tư nước ngoài và cũng không thể chỉ dựa duy nhất vào các DN nhà nước.

Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP) cùng với Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương (CIEM) vừa hoàn thành báo cáo rà soát một số lĩnh vực chính sách chính ảnh hưởng tới hoạt động của khu vực kinh tế tư nhân. Báo cáo này nhằm hỗ trợ Tổ công tác thi hành Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư với sự hướng dẫn và góp ý của nhiều chuyên gia kinh tế như Tiến sĩ Nguyễn Đình Cung (Phó Viện trưởng CIEM), Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan… Chỉ mới đầu tư chiều rộng Theo các chuyên gia, hệ thống chính sách ưu đãi đầu tư hiện nay mới có tác động theo chiều rộng, thúc đẩy tăng số lượng doanh nghiệp (DN), đầu tư mở rộng, đầu tư vào địa bàn khó khăn... Các chính sách này có tác động rất ít đến đầu tư theo chiều sâu như cải thiện vị trí của nền sản xuất trong nước trong chuỗi giá trị, dịch chuyển từ mô hình sản xuất dựa trên nguyên liệu sang mô hình sản xuất dựa vào hiệu quả kinh tế và sáng tạo… Thời gian gần đây, chính sách và môi trường đầu tư đã có một số tín hiệu tích cực về sự gia tăng đầu tư theo chiều sâu. Số lượng DN được đăng ký, số lượng lao động và số vốn đầu tư trong một số ngành kinh tế có hàm lượng công nghệ và chất xám cao hơn. Tuy nhiên, các chính sách đầu tư chưa khuyến khích các DN đầu tư vào các lĩnh vực có hàm lượng vốn và chất xám cao và các lĩnh vực nhằm nâng cao tính cạnh tranh của nền kinh tế. Các chính sách chương trình khuyến khích xã hội hóa, khuyến khích đầu tư vào các lĩnh vực y tế, khoa học, giáo dục nhằm nâng cao chất lượng con người, nâng cao trình độ tri thức và sự phát triển bền vững chưa đạt được mong muốn. Trên thực tế, chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn chưa hiệu quả như mong muốn. Ảnh: HTD Cho tới nay, các DN hoạt động trong lĩnh vực giáo dục đào tạo chỉ chiếm 0,46%, trong lĩnh vực y tế là 0,22% và trong lĩnh vực văn hóa thể thao là 0,37%. Đáng lo ngại hơn là chỉ có 0,02% hoạt động trong lĩnh vực khoa học công nghệ. Các chuyên gia dẫn chứng và lưu ý những con số này quả thực là đáng lo ngại nếu như nhìn từ góc độ mong muốn xây dựng một nền kinh tế dựa trên tri thức, sáng tạo, sử dụng nhiều nguồn lực chất xám của con người trong dài hạn. Không thể dựa vào doanh nghiệp FDI Bên cạnh đó, DN tư nhân vẫn chưa góp phần hình thành một ngành công nghiệp phụ trợ hoặc tham gia tích cực vào chuỗi giá trị toàn cầu. Đến nay ngành công nghiệp phụ trợ của Việt Nam vẫn ở vạch xuất phát. Các chính sách thu hút đầu tư nước ngoài và chính sách phát triển DN tư nhân đã không được phối hợp một cách tốt nhất để các DN tư nhân phát triển ngành công nghiệp phụ trợ này. Tại một hội thảo do VCCI tổ chức gần đây, ông Sachio Kagayama, Tổng Giám đốc Canon Việt Nam, cho biết một thực tế đáng buồn: “99% nhà cung cấp cho Canon Việt Nam đều là các DN có vốn đầu tư nước ngoài. Các DN Việt Nam làm công nghiệp phụ trợ cho công ty chủ yếu ở các khâu đóng gói, bao bì”. Các chuyên gia cũng đưa ra cảnh báo quá trình công nghiệp hóa của Việt Nam không thể dựa vào các DN có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) và cũng không thể chỉ dựa duy nhất vào các DN nhà nước. Các bài học kinh nghiệm về phát triển DN của Hàn Quốc, Đài Loan đáng để Việt Nam học hỏi và suy ngẫm về sự phát triển ngành công nghiệp của các nước này dựa trên nền tảng các DN trong nước. Ngoài ra, theo phân tích của các chuyên gia, chính sự không tương thích giữa các quy định pháp luật khác nhau về chế độ ưu đãi đầu tư đã làm giảm hiệu lực ưu đãi. Cùng với việc thay đổi chính sách diễn ra chậm chạp khiến chất lượng làm chính sách không cao, không có sự tham vấn, phối hợp cần thiết giữa các cơ quan quản lý có liên quan. Các chính sách thường được hoạch định trong thế bị động, thiếu một hệ thống tư duy chính sách đồng bộ, tầm nhìn và chiến lược ngay từ đầu. THU HẰNG