Dự kiến, chiều nay 17/11/2014, HĐXX TAND huyện Thanh Liêm, Hà Nam sẽ tuyên án đối với anh thợ điện nước Đinh Quang Hưng, SN 1971, trú tại xã Thanh Nghị, huyện Thanh Liêm, Hà Nam cùng 2 bị cáo khác về tội “Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong thi hành công vụ”. Thế nhưng, những chứng cứ buộc tội được VKS huyện Thanh Liêm đưa ra tại phiên tòa sơ thẩm diễn ra cuối tuần trước vẫn chưa thuyết phục...

Các bị cáo tại phiên tòa ngày 13/11

“Chứng cứ bất nhất”?

Theo đó, tại phiên tòa, VKS huyện Thanh Liêm cho rằng Vũ Thị Nguyệt, SN 1984, trú tại TP Phủ Lý, Hà Nam và Đinh Quang Hưng, SN 1971 đã gặp nhau ở đường làng. Tại đây, Hưng đã đặt vấn đề làm giếng khoan với Nguyệt để được bồi thường. Sau đó, Hưng đi theo Nguyệt vào trong nhà ông Huấn xin Nguyệt ghi vào biên bản một giếng khoan. Hưng lấy trong ví của mình ra 400.000 đồng đưa cho Nguyệt. Nguyệt cầm tiền Hưng đưa và đi sang nhà khác kiểm kê.

Tuy nhiên, luật sư Nguyễn Thị Thu Giang, người bào chữa cho bị cáo Vũ Thị Nguyệt đã yêu cầu VKS đưa ra chứng cứ chứng minh rõ ràng và chính xác về thời điểm nhận và địa điểm giao nhận mà Hưng và Nguyệt thực hiện. Tuy nhiên, phía VKS đã không đưa được chứng cứ, chứng minh và đưa ra những lập luận bất nhất. Theo đó, về thời điểm thỏa thuận không có nhân chứng: Tại bản cáo trạng VKS cho rằng Hưng và Nguyệt gặp nhau ở đường làng, nhưng tại phiên tòa ngày 12 và 13/11, VKS lại khẳng định kể cả không gặp nhau ở đường làng thì vẫn cấu kết với nhau. Nhưng tại bản kháng nghị, Viện kiểm sát lại thay đổi quan điểm rằng “không có thông mưu trước” nghĩa là “không có sự thỏa thuận, bàn bạc với nhau”. Phải chăng đây hoàn toàn là sự áp đặt có chủ đích của Viện kiểm sát? Cũng theo luật sư Giang thì đây là quan điểm luận tội không thống nhất và hoàn toàn quy chụp. Hơn nữa, cả Hưng và Nguyệt đều không công nhận đã gặp nhau trước đó, không biết nhau. Chỉ đến khi bị triệu tập tại Tòa án tại thời điểm lấy lời khai thì họ mới gặp nhau.

“VKS huyện Thanh Liêm xác định thời điểm Hưng gặp Nguyệt tại đường làng vào ngày trước thời gian kiểm kê. Tuy nhiên thực tế thì Nguyệt đi kiểm kê các hộ trên đồi trước, sau đó đến ngày 8/7/2010 mới xuống các hộ dân. Như vậy không thể có việc Hưng và Nguyệt gặp nhau ở đường làng để thỏa thuận trước”, luật sư Giang bày tỏ.

Về địa điểm nhận tiền VKS đưa ra cũng không đúng với thực tế, bởi các lẽ: Ông Nhữ Văn Huấn (là chủ nhà) và ông Vinh, ông Nguyễn Bá Hạnh là đại diện hộ dân đi cùng tổ kiểm kê đã xác nhận tại các lời khai có trong hồ sơ cũng như xác nhận tại phiên tòa sơ thẩm công khai lần trước vào ngày 12/6/2014 rằng tại thời điểm kiểm kê không có mặt Hưng tại nhà ông Huấn.

Tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Đức Tuân, SN 1985, trú tại xã Thanh Tâm, huyện Thanh Liêm, Hà Nam cho rằng có nhìn thấy Hưng đi cùng tổ kiểm kê và có đi gần Nguyệt tại thời điểm Tuân đi kiểm kê nhà bà Nguyễn Thị Hồng, ở thôn Thanh Bồng. Thời điểm này là vào ngày 9/7/2010, trong khi thời điểm Nguyệt đi kiểm kê tại nhà ông Huấn là vào ngày 8/7/2010 và tại tòa Tuân cũng không xác nhận về việc nhìn thấy Hưng đưa tiền cho Nguyệt.

Ngoài ra, luật sư Giang còn cho rằng: Trong Bút lục số 826, Hưng khai nhận: “Số tiền này là ông Huấn đưa tôi để bồi dưỡng cho Ban GPMB, tôi bảo ông Huấn đưa tôi cầm để tôi đưa. Số tiền 400.000đ này tôi cầm và chi tiêu cá nhân chứ không đưa cho bất kỳ ai”. Và tại các phiên tòa, Hưng vẫn khẳng định không gặp và đưa tiền cho Nguyệt.

Tại phiên tòa, VKS cũng đã đưa ra chứng cứ buộc tội của mình rằng: “Lời khai của Nguyễn Thị Trường Duyên, cán bộ cùng kiểm kê với Nguyệt cũng đã khai rằng: “Duyên được nghe Nguyệt kể đã nhận của Hưng 400.000 đồng”. Tuy nhiên, luật sư Giang cho rằng VKS luận tội lại được căn cứ vào lời nói “được nghe” của Duyên mà không có đối chất, không có bằng chứng, không có nhân chứng.

Tại phiên tòa sơ thẩm, Nguyệt đã phản đối và không công nhận có sự việc này, đồng thời đề nghị VKS đối đáp và đưa ra bằng chứng nhưng VKS đã không đối đáp được và cũng không đưa ra được bằng chứng nào...

Đại diện hộ dân bảo có giếng, chủ nhà bảo không?

Cũng tại phiên tòa, VKS huyện Thanh Liêm còn buộc tội bị cáo Nguyệt ghi khống giếng khoan hộ ông Tuyền dựa trên bản giám định chữ viết và mẫu mực viết trong biên bản kiển kê nhà ông Tuyền. Trong đó, “mục cuối cùng ghi giếng khoan sâu 30m không cùng mẫu mực với các mục ghi trước đó”. VKS cho rằng, nhà ông Tuyền không có giếng khoan mà do bị cáo Nguyệt ghi khống vào biên bản kiển kê với mục đích nể nang.

Tuy nhiên, luật sư Giang cho rằng: Nếu chỉ đánh giá mẫu mực khác mà đã kết tội bị cáo ghi thêm thì chưa khách quan. Bởi thực tế hộ ông Tuyền hiện trạng khi đoàn kiểm kê tới là có giếng khoan. Chiếc giếng này được bị cáo Hưng và anh Ngọc, là người làm chứng tại phiên tòa và cũng là người ở liền kề với nhà ông Tuyền khẳng định: Trực tiếp được ông Tuyền thuê làm mô hình giếng khoan giống như các nhà khác. Đặc điểm, cũng xây bệ xung quanh kích thước khoảng 30x40x30 có đường ống nước nhô lên khỏi mặt đất 40-50 cm, có đường dẫn nước ở nơi khác về. Để đến khi lắp máy bơm vào cho cắm điện bơm thử thì có nước chảy ra.

Như vậy rõ ràng là khi đoàn kiểm kê tới hộ ông Tuyền thì hiện trạng nhà ông Tuyền đã xuất hiện mô hình giếng khoan. Số tiền 300.000 đồng ông Tuyền trả cho bị cáo Hưng. Trong quá trình làm việc với CQĐT bị cáo Hưng đã phải nộp vào kho bạc nhà nước theo yêu cầu của CQĐT. Điều đáng quan tâm hơn nữa đó là VKS huyện Thanh Liêm chỉ dựa vào mỗi lời khai không đúng sự thật của hộ ông Tuyền rằng “nhà tôi không hề có giếng khoan, tự ý cô Nguyệt ghi vào từ lúc nào tôi không biết”. Đánh giá lời khai của ông Tuyền là hết sức phi lý bởi lẽ trước khi viết biên bản kiểm kê chính thức, Ban GPMB cùng chủ hộ đi xác định từng loại cây, từng loại tài sản nằm trong mốc GPMB bị ảnh hưởng bởi dự án. Đi xác định tới đâu Ban GPMB cùng chủ hộ ghi luôn vào bản nháp sổ tay tới đó. Bản nháp này được đọc lại, cho chủ hộ xem lại thấy đầy đủ chưa, còn thiếu sót gì không thì sẽ kiểm tra bổ sung ngay rồi ký xác nhận luôn vào bản nháp. Từ bản nháp đã được chủ hộ ký xác nhận, Ban GPMB mới lập vào biên bản kiểm kê chính thức ngay tại hiện trường, rồi lại thông qua cho chủ hộ, chủ hộ tự xem lại lần nữa nếu đầy đủ, đúng rồi thì ký nhận vào biên bản kiểm kê. Sau đó Ban GPMB mới tổng hợp số liệu kiểm kê đánh máy tính từng mục một gửi công khai số liệu kiểm kê tới từng hộ để công khai số liệu kiểm kê trước đó. Sau vài ngày mới thu số liệu công khai về, nếu hộ nào có ý kiến gì về số liệu thì ghi ý kiến ngay ở mặt sau của tờ công khai. Như vậy các hộ dân ít nhất phải qua 3 lần ký xác nhận vào số liệu kiểm đếm của gia đình mình. Từ những căn cứ xác thực như trên không thể cho rằng hộ ông Tuyền không có giếng. Tất cả những lần ông Tuyền ký nhận vào từ bản nháp đến biên bản kiểm kê đến bảng công khai số liệu đều có mục giếng khoan và đều được ông ký xác nhận. Điều này không thể phủ nhận được. Hơn nữa số tiền bồi thường giếng khoan gia đình ông Tuyền là người trực tiếp nhận tiền của chủ đầu tư và đến nay chưa trả lại cho Nhà nước.

Theo luật sư Giang, trong bản cáo trạng cũng như diễn biến tại phiên tòa VKS huyện Thanh Liêm đã không dựa trên các chứng cứ khách quan để đánh giá bản chất thực của sự việc mà chỉ dựa trên những suy đoán bất lợi cho bị can để cố buộc tôi bị can... Trong quá trình kiểm kê hộ ông Tuyền, VKSND huyện Thanh Liêm không chứng minh được bị can Nguyệt có vụ lợi gì mà chỉ nói chung chung không thuyết phục là do “nể nang”. VKS cũng không đưa ra căn cứ chứng mình nào để chứng minh bị cáo Nguyệt “nể nang” để vụ lợi gì trong vụ này, khi bị cáo Nguyệt với hộ ông Tuyền không hề có bất kỳ mối quan hệ nào?

Theo Pháp luật & Xã hội