(VnMedia) - Thế giới đang đối mặt với thách thức tăng dân số, nguồn năng lượng cạn kiệt và biến đổi khí hậu... Trong “Viễn cảnh tầm nhìn chiến lược năng lượng Việt Nam đến 2050” mà Tập đoàn Shell đưa ra, Việt Nam sẽ lựa chọn kịch bản nào: “Giành giật” hay “Hoạch định”?

Dựa trên những mô hình năng lượng (NL) mạnh, Shell xây dựng mô hình NL 50 năm tới cho 70 quốc gia trên thế giới. Ông Nghiêm Phú Hùng, Phó Tổng Giám đốc Shell VN cho biết:“Từ 2 năm nay, Shell đã bắt đầu vòng đối thoại mới với các Chính phủ và các bên liên quan”. Nước giàu “giành giật” mạnh hơn Tập đoàn Shell dự báo, thế giới sản xuất ngày càng nhiều điện, nhưng vẫn còn 1,6 tỷ người chưa có điện dùng. Nguồn năng lượng dễ khai khác sẽ không thể đáp ứng nhu cầu, nó đang cạn kiệt dần. Từ nay đến 2020 băng vùng Nam Cực, Bắc Cực tiếp tục tan, khoảng 7%/năm. Khu vực Đông Nam Á sẽ bị ảnh hưởng bởi lũ lụt, lượng khí thải CO2 tăng khoảng 18%. Năm 2050, dân số tiếp tục gia tăng, mức tiêu thụ NL sẽ không còn ở là 5 USD/ngày/người. Bên cạnh đó, xu hướng CNH, HĐH ở các nước đang phát triển, buộc thế giới đối mặt với khủng hoảng NL. Trong 50 năm tới Shell giả định, NL sẽ phát triển khoảng 30%. Đầu tiên, các quốc gia thông qua quá trình “giành giật” để thống trị nguồn NL, tạo nguồn cung. Các Chính phủ này sẽ đưa ra các chính sách gây “sốc” để “giành giật” nguồn NL. Trong thế giới “giành giật”, sẽ không có hợp tác giữa các quốc gia, nước giàu gây ô nhiễm, nước nghèo phải hứng chịu. Họ thực hiện tất cả các chiến lược, chính sách miễn sao có được nguồn lợi kinh tế, NL. Với cách này, quốc gia đó có thể bảo đảm an ninh NL riêng nhưng sẽ làm ảnh hưởng đến các nước nhỏ, đặc biệt là các nước nghèo. Và một điều nhận thấy, các nước giàu sẽ “giành giật” mạnh hơn. Cũng trong bối cảnh của tương lai 50 năm tới, một số quốc gia đã lúng túng khi buộc phải lựa chọn “giành giật” hay “hoạch định”. Theo TS Cho Oon Khong-chuyên gia NL Tập đoàn Shell, có nhiều khả năng lựa chọn nhưng có 2 cách thích ứng: Xử lý bên cung: tìm ra nguồn dầu, than… Tìm nguồn cầu: quản lý cách thức xử lý NL. Tuy nhiên, cả hai kế hoạch đều phụ thuộc vào lựa chọn của mỗi quốc gia, vào góc độ chính trị, tăng trưởng kinh tế và cách hành xử của người đứng đầu Chính phủ. Theo TS Cho, một thế giới “hoạch định” bao gồm các quốc gia cùng hợp tác xây dựng một tương lai NL chung sẽ tốt hơn so với một thế giới “giành giật” chỉ có cạnh tranh khốc liệt và luôn xung đột. Mặc dù mỗi nước có một cơ chế riêng nhưng với “hoạch định”, các quốc gia có thể cùng thương lượng, cam kết phát triển nguồn NL bền vững, giảm thiểu biến đổi khí hậu môi trường. “Vì vậy, chúng ta cần một tầm nhìn dài hạn hơn nữa trong “hoạch định” chính sách an ninh NL”, TS Cho tham vấn. Nguồn lượng thay thế Theo viễn cảnh của Shell, đến 2050, dân số tăng, con người sử dụng NL nhiều hơn. Để đáp ứng nhu cầu sử dụng NL trong tương lai, một số quốc gia hướng tới phát triển NL hạt nhân, nhưng bị hạn chế ở khâu sản xuất và con người, đặc biệt là thiếu các nhà vật lý để quản lý, vận hành. Một số quốc gia khác lựa chọn phát triển năng lượng gió, mặt trời… nhưng họ “quên” việc phải làm gì để nguồn NL này phát triển, đáp ứng được 1/3 nhu cầu NL vào 2050. Các quốc gia phát triển lại chọn cách thắt chặt hơn nữa tỷ lệ sử dụng NL/đầu người. Thắt chặt, không có nghĩa các quốc gia này đã nghèo hơn mà với họ, đây là giải pháp, chiến lược phát triển NL. Tuy nhiên, theo quan điểm của Shell, việc cắt giảm sử dụng NL bình quân đầu người đòi hỏi phải có những thỏa thuận chính trị ở mỗi quốc gia. Cao hơn là những thỏa thuận liên chính phủ về thay đổi kế hoạch toàn cầu. Nhưng điều này cũng buộc các quốc gia ngay từ bây giờ phải phải có nhận thức, quan điểm đúng để lựa chọn nguồn năng lượng thay thế. Các chính phủ cũng không thể chỉ đưa ra một giải pháp duy nhất mà phải tạo ra nhiều giải pháp khác nhau, đủ sức xử lý những thách thức, khó khăn trên theo lộ trình 2020 đến 2050…và dài hơi hơn nữa. Năng lượng có được ưu tiên ? Cũng như các nước đang phát triển, VN đang trong quá trình chuyển đổi, nguồn đầu tư vào lĩnh vực năng lượng không lớn. Theo đánh giá của Shell, hiện, NL tổng thể của VN tăng cao so với các quốc gia trong khu vực. Tuy nhiên, nếu so sánh thực lực, khả năng “giành giật” của VN là hạn chế. VN có nhà máy lọc dầu Dung Quất nhưng cũng chỉ cung cấp được 30% nhu cầu sử dụng. Trữ lượng than, khí sinh học…còn lớn, song sẽ cạn kiệt vào 70-80 năm tới…Những thách thức này sẽ đẩy khoảng cách cung - cầu ngày càng xa. “Trong chính sách về năng lượng quốc gia đến 2020 của VN cho thấy, người VN có nhiều ý tưởng hay. Nhưng với cơ sở hạ tầng, mức đầu tư, nguồn nhân lực…hiện nay, mục tiêu phát triển NL của VN đề ra là hơi tham vọng”, ông Cho nhận xét. Theo TS Cho, để đáp ứng NL cho 50 năm tới, ngay từ bây giờ, VN cần tăng cường tính hiệu quả các chính sách của chính phủ. Chính phủ VN cần đầu tư hơn nữa cho thăm dò, khai thác NL, quy định giá điện, đào tạo nguồn nhân lực… VN cũng có thể phát triển nguồn NL sinh học, nhưng phải xem xét các chiến lược của chính phủ. VN có thể hợp tác với các nước tầm trung để phát triển NL song “giành giật” sẽ giúp VN đấu tranh nhiều hơn để sinh tồn. Sau tất cả, liệu VN có quyết định đưa ra mục tiêu chiến lược NL hay không khi đã có quá nhiều chiến lược, và quan trọng hơn, vấn đề NL có được chính phủ ưu tiên hàng đầu? Phần II: Đảm bảo An ninh năng lượng: Việt Nam buộc phải lựa chọn Hải Vân