(Toquoc)-Cuộc chiến 3 năm là biểu hiện rõ nét của những mâu thuẫn thời chiến tranh Lạnh. Hơn 3 triệu người bỏ mạng, kết thúc bằng hiệp định đình chiến mà không phải hiệp định hòa bình.

Người Triều Tiên đang kỷ niệm 60 năm ngày bùng nổ cuộc chiến tranh Triều Tiên (25/6/1950 – 25/6/2010) trong bối cảnh căng thẳng gia tăng trên bán đảo Triều Tiên sau vụ chiến hạm Cheonan của hải quân Hàn Quốc bị đánh đắm hôm 26/3. Thảm họa xảy ra trên biển Hoàng Hải đã cướp đi sinh mạng của 46 thủy thủ Hàn Quốc, một sự nhắc nhở sâu sắc để mọi ng nhớ rằng hai miền Triều Tiên đang bị chia cắt bởi giới tuyến dày đặc mìn, pháo và cả triệu binh lính vũ trăng, vẫn đang trong tình trạng chiến tranh. Cuộc chiến “huynh đệ tương tàn”, cuộc đối đầu vũ trang lớn nhất thời kỳ Chiến tranh Lạnh giữa Mỹ với Liên Xô, đã kết thúc tháng 7/1953. Một hiệp định đình chiến đã được ký kết và cho đến nay vẫn chưa được thay thế bằng một hiệp định hòa bình. Sau khi Bắc Triều Tiên tấn công Hàn Quốc vào rạng sáng 25/6/1950, một liên minh 16 nước, trong đó có Mỹ, Anh, Canada đã tập hợp chiến đấu cho miền Nam dưới mác lực lượng Liên hợp quốc. Theo số liệu thống kê của chính phủ Hàn Quốc, 137.899 binh sĩ Hàn Quốc đã thiệt mạng trong khi con số thương vong lên tới 450.742 người. Phía Bắc Triều Tiên có khoảng 215.000 binh sĩ thiệt mạng và khoảng 303.000 bị thương. Trong khi đó có hơn 2,54 triệu dân thường ở cả hai miền Triều Tiên đã bỏ mạng, bị thương hoặc mất tích trong cuộc chiến tranh này. Trong 3 năm chiến tranh đó, Mỹ mất 36.940 binh sĩ trong khi Trung Quốc có khoảng 114.000 binh sỹ bỏ mạng. Kỷ niệm 60 năm chiến tranh liên Triều tại Hàn Quốc, 25/6/2010 Cuộc tấn công lúc rạng đông Rạng sáng Chủ nhật ngày 26/6/1950, quân đội Bắc Triều Tiên với sự hỗ trợ của Liên Xô cũ và Trung Quốc đã tràn qua vĩ tuyến 38 tấn công miền Nam. Vĩ tuyến 38 vốn được Mỹ, Liên Xô cũ phân định làm biên giới giữa hai miền Triều Tiên sau thất bại của phát xít Nhật năm 1945. (Phát xít Nhật cai trị bán đảo Triều Tiên từ 1910 - 1945). Chế độ ở Bắc Triều Tiên dưới sự lãnh đạo của Kim Il-sung (Kim Nhật Thành) được lập tại phần Bắc bán đảo, dưới sự bảo hộ của Liên bang Xô Viết. Trong khi đó, một chính phủ do Rhee Syung-man làm tổng thống được thành lập tại miền Nam với sự giám sát của Mỹ. Cả Kim Il-sung và Rhee Syung-man đều muốn tái thống nhất bán đảo Triều Tiên. Liên tiếp các cuộc xâm lấn lẫn nhau nhỏ lẻ diễn ra trong giai đoạn tiền chiến tranh bùng nổ. Trong hai năm 1948 – 1949, lực lượng Liên Xô cũ và Mỹ rút khỏi hai miền. Quân đội Xô Viết rút nhưng đã để lại một di sản là các trang thiết bị, vũ khí hiện đại và đào tạo cơ bản cho quân đội Bắc Triều Tiên. Trong khi đó, quân đội Mỹ rút đi để lại cho lực lượng miền Nam tình trạng thiếu thốn trang thiết bị quân sự và không được chuẩn bị sẵn sàng cho một cuộc xâm chiếm bất ngờ. Với trang bị vũ khí hiện đại kế thừa kể từ Liên Xô cũ, gồm khoảng 242 xe tăng T-34 và súng máy tự động, quân đội Bắc Triều Tiên đã tràn qua biên giới, truy kích quân đội miền Nam, đang trong ngày nghỉ cuối tuần 25/6/1950. Ở thời điểm đó, có khoảng 191.000 binh sỹ Bắc Triều Tiên tham chiến trong khi lực lượng Hàn Quốc là 94.000 người. Bắc Triều Tiên tuyên bố rằng việc họ tấn công là để tự vệ chống lại hành động lấn chiếm của miền Nam. Sự can dự của Liên hợp quốc Chỉ ít giờ sau khi Bắc Triều Tiên thực hiện cuộc tấn công lúc rạng đông, Hội đồng bảo an Liên hợp quốc (HĐBA LHQ) đã ra tuyên bố lên án, kêu gọi miền Bắc ngay lập tức đình chỉ hành động thù địch và rút quân về bên kia vĩ tuyến 38. Đến ngày 27/6/1950, HĐBA LHQ đã thông qua một nghị quyết trong đó yêu cầu các nước thành viên ủng hộ quân sự cho Hàn Quốc. Cùng ngày, Tổng thống Mỹ khi đó là Harry S. Truman đã ra lệnh cho quân đội hỗ trợ Hàn Quốc, một trong những hành động cứng rắn nhất nhằm chặn đứng sự lấn chiếm của nhà nước Cộng sản. Một Bộ tư lệnh Liên hiệp quốc được thành lập ngày 7/7/1950. Tướng Douglas MacArthur được bổ nhiệm làm Tổng tham mưu trưởng lực lượng LHQ tại Hàn Quốc, mở đường cho việc can thiệp quân sự của lực lượng LHQ vào miền Nam Triều Tiên. Tổng thống Hàn Quốc lúc đó Rhee Syung-man đã tự nguyện trao quyền chỉ huy quân đội thời bình và thời chiến cho Bộ tư lệnh LHQ do Mỹ đứng đầu từ ngày 14/7/1950. Cho đến tận năm 1994 Hàn Quốc mới nắm lại quyền chỉ huy quân sự thời bình dưới thời cựu Tổng thống Kim Young-sam. Hàn Quốc hiện đang dự kiến nhận nốt quyền chỉ huy quân sự thời chiến từ Mỹ vào năm 2012. Sau những chuẩn bị cấp tập này, quân đội Mỹ đã được điều động vội vã từ các căn cứ ở Nhật Bản tới Hàn Quốc. Trong thời gian đầu, lực lượng hỗn hợp Hàn - Mỹ đã phải chống chọi rất vất vả với sức tiến công của quân đội Bắc Triều Tiên. Thất bại đầu tiên của quân Mỹ Sự tham chiến quy mô lớn đầu tiên của lực lượng Mỹ trong cuộc chiến tranh Triều Tiên đánh dấu bằng cuộc đối đầu tại Osan. Tiểu đoàn thiện chiến gồm khoảng 540 binh sỹ thuộc Sư đoàn bộ binh số 24 của Mỹ đã tấn công lực lượng Bắc Triều Tiên tại Osan ngày 5/7. Nhiệm vụ của tiểu đoàn này là tấn công lực lượng miền Bắc, làm chậm tiến trình đánh chiếm của Bình Nhưỡng để quân đội Mỹ triển khai sâu xuống miền Nam Triều Tiên. Cuộc phản công này đã thất bại nặng nề bởi quân Mỹ không đủ trang thiết bị cần thiết có thể tiêu diệt xe tăng của miền Bắc. Quân đội miền Bắc tiếp tục lấn sâu thêm xuống phía Nam và sư đoàn bộ binh số 24 buộc phải rút lui. Rút xuống Pusan Tháng 8/1950, quân đội Bắc Triều Tiên đã đẩy lực lượng Hàn Quốc và Mỹ rút lui xuống khu vực giáp với thành phố cảng Pusan thuộc miền Nam của Hàn Quốc. Đến đầu tháng 9, lực lượng LHQ do Mỹ đứng đầu chỉ còn kiểm soát một phần thành phố cảng với giới tuyến là con sông Nakdong. Cuộc chiến giằng co ở vòng ngoài của thành phố này diễn ra ác liệt trong suốt hơn 1 tháng. Lực lượng Mỹ đang cố thủ tại đây đã phải kêu gọi tăng viện từ căn cứ ở Nhật Bản. Trong khi hai bên đang giằng cotại khu vực Pusan, Tổng tư lệnh Mac Arthur đã đề nghị thực hiện cuộc đổ bộ bằng đường không vào Incheon, dẫn đến chiến thắng quyết định sau đó. Cuộc đổ bộ Incheon của Mỹ bắt đầu vào ngày 15/9/1950 và hoàn tất hai ngày sau đó với mục tiêu cắt đứt đường chi viện hậu cần và thông tin cho quân đội miền Bắc vốn đã tiến sâu xuống miền Nam, đẩy quân đội Bắc Triều Tiên vào tình thế bị kẹp giữa gọng kìm: quân đổ bộ ở Incheon (miền Bắc) đánh xuống và quân Mỹ cùng Hàn Quốc ở Pusan (miền Nam) đánh lên. Sau cuộc đổ bộ thành công, lực lượng liên minh do Mỹ đứng đầu bắt đầu phản công và giành lại quyền kiểm soát Seoul, tiếp đó, cuộc phản công ở lưu vực sông Nakdong cũng thắng lợi. Với chiến thuật này, lực lượng Mỹ-Hàn đã thành công trong việc cô lập quân đội miền Bắc, đảo ngược cục diện cuộc chiến, từ thế phòng ngự chuyển sang tấn công. Quân đội liên minh giành lại quyền kiểm soát Seoul ngày 28/9. Đến ngày 1/10, quân đội liên quân do Mỹ chỉ huy đã đẩy lui lực lượng Bắc Triều Tiên về phía Bắc vĩ tuyến 38 và tiếp tục lấn sang miền Bắc. Đến ngày 19/10, lực lượng liên quân và quân đội Hàn Quốc theo sau đã chiếm thủ đô Bình Nhưỡng và tiếp tục tiến lên lưu vực sông Amrok, chảy ngang qua biên giới Bắc Triều Tiên và Trung Quốc khiến lãnh đạo Bắc Kinh không thể làm ngơ. Sự can dự của Trung Quốc Quân đội Trung Quốc, vốn đã dàn trận bí mật tại biên giới Trung-Triều, bắt đầu tấn công liên quân miền Nam do Mỹ đứng đầu từ ngày 25/10. Sau khi đẩy lui liên quân miền Nam, lực lượng Trung Quốc tạm rút về vùng núi giáp biên giới Trung - Triều. Lực lượng liên quân miền Nam cho rằng việc rút quân nhanh chóng của Trung Quốc là do tiềm lực yếu, nên tiếp tục đánh chiếm lên khu vực sông Yalu, khiến lực lượng Trung Quốc tái tham chiến lần hai vào cuối tháng 11. Sau khi bị quân Trung Quốc bao vây, chia cắt, lực lượng liên quân miền Nam liên tiếp vấp phải thất bại trong giai đoạn 27/11 đến 11/12/1950. Trong cuộc chiến này, lực lượng Mỹ đã chịu thiệt hại nặng nề. Cuộc chiến tại khu vực này được xem là một trong những thát bại lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ. Lực lượng Mỹ thực hiện một cuộc rút quân quy mô lớn về Heungnam nơi mà sau đó một cuộc di tản lớn được thực hiện vào cuối tháng 12/1950. Trong cuộc di tản ồ ạt này, khoảng 91.000 người dân miền Bắc cũng bị dồn xuống khu vực kiểm soát của lực lượng liên quân ở miền Nam. Việc rút lui này giúp lực lượng liên quân và Hàn Quốc củng cố thế trận tại vùng kiểm soát ở phần Nam bán đảo Triều Tiên. Lực lượng liên quân rút về bên Nam vĩ tuyến 38 vào cuối tháng 12/1950. Ngày 4/1/1951, lực lượng Trung Quốc và Bắc Triều Tiên tái chiếm Seoul, buộc liên quân do Mỹ đứng đầu phải rút lui. Tuy nhiên, đến khoảng tháng 3/1951, lực lượng liên quân lại đẩy được Trung Quốc và Bắc Triều Tiên ra khỏi Seoul với chiến dịch không quân. Do những bất đồng trong nội bộ, Tư lệnh Mac Arthur bị Tổng thống Truman cách chức, Tướng Mathuw Ridgway được bổ nhiệm thay thế. Sau một vài tháng giằng co, cuối cùng, lực lượng liên quân đã củng cố phòng ngự tại vĩ tuyến 38. Đàm phán về hiệp định đình chiến Cuộc đàm phán về hiệp định đình chiến bắt đầu vào ngày 10/7/1951 và kéo dài suốt 2 năm sau đó. Tình trạng căng thẳng đối đầu tiếp diễn suốt tiến trình đàm phán và bị gián đoạn nhiều lần với các vấn đề trao trả tù binh và xác định đường giới tuyến đình chiến. Trong tiến trình thương lượng này, lực lượng LHQ do Mỹ đứng đầu và lực lượng miền Bắc đã tiến hành 760 vòng đàm phán. Tháng 1/1953, Dwight Eisenhower, người vốn trước đó công khai chỉ trích cuộc chiến đã đắc cử tổng thống Mỹ. Đến 27/7/1953, Bắc Triều Tiên, Trung Quốc và liên minh miền Nam do Mỹ đứng đầu ký thỏa thuận đình chiến. Tổng thống Hàn Quốc khi đó là Rhee Syung-man đã không chấp nhận hiệp định đình chiến với lý do nó có thể làm kéo dài tình trạng chia cắt bán đảo Triều Tiên. Theo hiệp định đình chiến, một vùng đệm phi quân sự rộng 4 km được thiết lập dọc theo vĩ tuyến 38, chia cắt hai miền Triều Tiên. Hàn Quốc và Mỹ ngày 1/10 đã ký Hiệp định phòng thủ chung. Hiệp định này cho phép quân đội Mỹ đồn trú tại Hàn Quốc như sức mạnh răn đe với các cuộc xâm lấn khác của miền Bắc. Mỹ tiếp tục duy trì khoảng 28.500 quân ở Hàn Quốc cho đến nay./. PV (Theo báo Hàn Quốc)