Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn vừa có báo cáo về việc xuất khẩu các mặt hàng nông lâm thủy sản của Việt Nam trong 11 tháng năm 2016. Trong đó, thủy sản là mặt hàng tiếp tục duy trì vị thế xuất khẩu số 1 với đà tăng trưởng mạnh mẽ nhất trong các nhóm hàng nông sản; ngược lại, gạo và sắn lại là những mặt hàng sụt giảm mạnh.

Xuat khau nong san: Thuy san dung dau, gao sut giam manh - Anh 1

Thủy sản là mặt hàng tiếp tục duy trì vị thế xuất khẩu số 1 với giá trị xuất khẩu ước đạt 6,4 tỷ USD, tăng 6,9% so với cùng kỳ năm 2015.

Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản tháng 11/2016 ước đạt 2,69 tỷ USD, đưa tổng giá trị xuất khẩu 11 tháng năm 2016 đạt 29,1 tỷ USD, tăng 5,9% so với cùng kỳ năm 2015.

Trong đó, giá trị xuất khẩu các mặt hàng nông sản chính ước đạt 13,7 tỷ USD, tăng 7,2% so với cùng kỳ năm 2015. Trong các nhóm hàng xuất khẩu thuộc lĩnh vực nông nghiệp, thủy sản là mặt hàng tiếp tục duy trì vị thế xuất khẩu số 1 với giá trị xuất khẩu ước đạt 6,4 tỷ USD, tăng 6,9% so với cùng kỳ năm 2015.

Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn Quốc là 4 thị trường nhập khẩu hàng đầu của thủy sản Việt Nam, chiếm 54,1% tổng giá trị xuất khẩu thủy sản. Trong 10 tháng đầu năm 2016, các thị trường có giá trị xuất khẩu thủy sản tăng mạnh là Trung Quốc (47,7%), Hà Lan (16,1%), Hoa Kỳ (13,1%) và Thái Lan (12,6%).

Trong số các mặt hàng nông sản xuất khẩu thì cà phê, hạt tiêu và hạt điều là ba mặt hàng có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất. Cụ thể, đối với mặt hàng cà phê khối lượng xuất khẩu cà phê 11 tháng đầu năm 2016 đạt 1,6 triệu tấn và 2,98 tỷ USD, tăng 36,1% về khối lượng và tăng 24,3% về giá trị so với cùng kỳ năm 2015.

Tiếp đến là hạt điều, tháng 11/2016 xuất khẩu ước đạt 29 nghìn tấn với giá trị 257 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu hạt điều 11 tháng đầu năm 2016 đạt 320 nghìn tấn và 2,59 tỷ USD, tăng 6,2% về khối lượng và tăng 18,3% về giá trị so với cùng kỳ năm 2015.

Khối lượng xuất khẩu tiêu 11 tháng đầu năm 2016 đạt 170 nghìn tấn và 1,37 tỷ USD, tăng 36,7% về khối lượng và tăng 15,1% về giá trị so với cùng kỳ năm 2015.

Các mặt hàng cao su và chè cùng đều có sự gia tăng mạnh về kim ngạch xuất khẩu, theo đó, xuất khẩu cao su 11 tháng năm 2016 tăng 12,3% về khối lượng và tăng 4,6% về giá trị so với cùng kỳ năm 2015, đối với mặt hàng chè xuất khẩu 11 tháng 2016 tăng 7,1% về khối lượng và tăng 4,3% về giá trị so với cùng kỳ năm 2015.

Mặt hàng gỗ và sản phẩm gỗ sau nhiều tháng sụt giảm thì sang tháng 11 tăng trở lại với kim ngạch xuất khẩu tháng 11 đạt 597 triệu USD, đưa giá trị xuất khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ 11 tháng đầu năm 2016 đạt 6,2 tỷ USD, tăng 0,7% so với cùng kỳ năm 2015.

Trong khi các mặt hàng nông sản khác có xu hướng tăng, thì xuất khẩu gạo lại giảm mạnh cả về lượng và giá trị. 11 tháng qua, khối lượng gạo xuất khẩu ước đạt 4,54 triệu tấn và 2 tỷ USD, giảm 25% về khối lượng và giảm 20,3% về giá trị so với cùng kỳ năm 2015.

Trung Quốc vẫn tiếp tục đứng vị trí thứ nhất về thị trường nhập khẩu gạo của Việt Nam với 36% thị phần. Tuy nhiên, thống kê cho thấy, xuất khẩu gạo sang thị trường này 10 tháng chỉ đạt 1,57 triệu tấn, giảm 22,5% về lượng và 13,7% so với cùng kỳ. Bên cạnh đó, các thị trường có giá trị giảm mạnh là Philippines (-61,6%), Malaysia (-51,5%), Singapore (34,1%), Bờ Biển Ngà (-29,1%), Mỹ (-28,3%) và Hồng Kông (-7,7%).

Ngoài mặt hàng gạo, xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn cũng sụt giảm. Trong tháng 11/2016 ước đạt 294 nghìn tấn với giá trị đạt 80 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu sắn và các phẩm từ sắn 11 tháng qua đạt gần 3,3 triệu tấn và 896 triệu USD, giảm 12,3% về khối lượng và giảm 24,9% về giá trị so cùng kỳ năm 2015.

T.Tân