“Bất cứ một nước nào đều phải trả giá khi xử lý khủng hoảng. Giá đắt hay rẻ còn tùy thuộc vào chất nghiêm trọng cũng như vị thế của nước đó. Ở Việt Nam, thị trường mua bán nợ chưa phát triển, VAMC rất ít “tiền tươi thóc thật” để mua nợ, vì thế vị thế mặc cả của ngân hàng, doanh nghiệp hay VAMC đều yếu. Đó là lý do các khoản nợ khó được mua với giá thích hợp”, TS Võ Trí Thành cho biết.

Xu ly no xau:'Co bot moi got nen ho' - Anh 1

Vị thế mặc cả của ngân hàng, doanh nghiệp hay VAMC đều yếu

Nhận xét về quá trình xử ly nợ xấu ở Việt Nam, TS Võ Trí Thành cho rằng “Đó là bức tranh hai màu sáng, xám”. VAMC được thành lập, việc mua nợ xấu của các ngân hàng giúp giảm áp lực gánh nặng chi phí, thay vì phải trích lập dự phòng rủi ro 50% -100% trong năm, ngân hàng có thể “chia đều” cho 5 năm. Nhưng vướng mắc về pháp lý như quyền sở hữu và quyền tài sản. Thị trường mua bán nợ vẫn chưa được định hình. Vì vậy nợ VAMC mua về vẫn khó xử lý được, điều này dễ khiến các ngân hàng nản lòng, không muốn tiếp tục bán nợ xấu cho VAMC. Chưa kể nợ xấu rất lớn của các DNNN, nhiều khoản nợ không có tài sản đảm bảo. Việc xử lý nợ xấu gắn chặt với tái cơ cấu DNNN, thoái vốn và sở hữu chéo. Điều này đòi hỏi DATC và Bộ Tài chính phải có bước quyết liệt hơn.

“Bất cứ một nước nào đều phải trả giá khi xử lý khủng hoảng. Giá đắt hay rẻ còn tùy thuộc vào chất nghiêm trọng cũng như vị thế của nước đó. Ở Việt Nam, thị trường mua bán nợ chưa phát triển, VAMC rất ít “tiền tươi thóc thật” để mua nợ, vì thế vị thế mặc cả của ngân hàng, doanh nghiệp hay VAMC đều yếu. Đó là lý do các khoản nợ khó được mua với giá thích hợp”, TS Võ Trí Thành cho biết.

Bàn về thị trường mua bán nợ, TS Nguyễn Mạnh Hùng - Viện Chiến lược ngân hàng cho biết hiện số doanh nghiệp được mua bán nợ xấu của Việt Nam rất ít, gồm VAMC, DATC và gần 20 AMC của các tổ chức tín dụng. Trong khi đó hầu hết các AMC của TCTD chỉ xử lý nợ nội bộ của chính ngân hàng mẹ, không tham gia vào thị trường mua bán nợ. Hơn nữa VAMC là công ty TNHH MTV do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ nên không thể bán cho bên thứ 3 nếu họ không có chức năng mua bán nợ.

“Nợ xấu Việt Nam như bức tranh hai màu sáng - xám”

Đề xuất về giải pháp xử lý nợ xấu, TS Nguyễn Mạnh Hùng cho rằng “Có bột mới gột nên hồ, có tiền mới xử lý được nợ xấu. Các chuyên gia đã nhấn mạnh việc quan trọng của dùng tiền ngân sách để xử lý nợ xấu. Các ngân hàng đã sức cùng lực kiệt (ROE toàn ngành giảm từ 12% trước năm 2010 xuống còn 5% như hiện nay). Nếu cứ trích lập dự phòng rủi ro lớn hơn là đổ bể hệ thống có thể xảy ra”.

Trao đổi với PV, ông Nguyễn Quốc Hùng, Chủ tịch Công ty Quản lý tài sản các TCTD Việt Nam (VAMC) kiến nghị cần có biện pháp mạnh đối với những khách hàng trả nợ, cố tình trây ỳ không hợp tác nhất là những khách hàng có điều kiện trả nợ nhưng cố tình không trả, không bàn giao TSBĐ để phát mại. Thêm vào đó, cần tháo gỡ những nút thắt liên quan đến cơ chế chính sách, xây dựng và thông qua một đạo luật xử lý nợ xấu hoặc nghị quyết của Ủy ban thường vụ quốc hội về xử lý nợ xấu, có giá trị trong thời hạn xử lý nợ xấu tối đa từ 3 đến 5 năm. Trong trường hợp chưa thể ban hành bộ luật xử lý nợ xấu thì thành lập tổ liên ngành bao gồm Bộ Công An, Viện kiểm soát, Tòa án, chính quyền địa phương tham gia cùng VAMC tổ chức thực hiện việc xử lý nợ xấu thông qua việc thu giữ TSBĐ, bán nợ.

Tóm lại nếu không sớm tháo gỡ nút thắt về cơ chế thì đòi hỏi xử lý nhanh và thực chất nợ xấu ở nước ta chỉ là lý thuyết. Xin dẫn lời hai chuyên gia trong lĩnh vực tài chính ngân hàng: TS Cấn Văn Lực cho rằng “giải pháp then chốt quan trọng nhất vẫn là cơ chế chính sách”. Chủ tịch VAMC, TS Nguyễn Quốc Hùng cho biết: “Hiện tại chúng tôi chưa cần thêm tiền, vì 2000 tỉ đồng vốn hiện có vẫn chưa sử dụng hết, mà cần cơ chế”.

Lan Hương