Nội soi tại Bệnh viện Nhi Trung ương.

Đột phá trong ghép tạng Ở Việt Nam, phẫu thuật ghép tạng đã được chuẩn bị từ những năm 70, nhưng phải đến những năm 90 của thế kỷ 20, trường hợp ghép thận đầu tiên lấy từ người cho đang sống khỏe mạnh, đã được các thầy thuốc Bệnh viện Quân y 103 - Học viện Quân y thực hiện thành công. Mặc dù chậm hơn so với thế giới khoảng vài chục năm trong lĩnh vực ghép mô, tạng, nhưng đến nay, Việt Nam đã đạt được những thành tựu rất đáng ghi nhận. Ngày 16-12-2010, thành công của ca ghép gan được thực hiện trên người trưởng thành tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, ca ghép tim từ người cho chết não của Bệnh viện Quân y 103 đã tạo bước đột phá trong lĩnh vực ghép tạng, mở ra hy vọng lớn cho những người không may mắc bệnh hiểm nghèo. Và điều này cũng chứng minh rằng, y học Việt Nam có thể thực hiện được những phương pháp mang tính kỹ thuật cao của y học thế giới về ghép gan, tim, thận và các bộ phận nội tạng khác trong cơ thể người, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh. Kỹ thuật can thiệp nội mạch Kỹ thuật can thiệp nội mạch được thực hiện từ những năm 70 của thế kỷ trước ở các nước có nền y học tiên tiến. Can thiệp nội mạch là một kỹ thuật cao, sử dụng các dụng cụ chuyên dụng luồn vào trong lòng mạch tới cơ quan đích để bơm thuốc, bít tắc hoặc làm giãn mạch máu để điều trị các loại bệnh tại các cơ quan nội tạng. Nhờ vậy, can thiệp nội mạch đã thay thế cho những phẫu thuật mở, phức tạp trước đây. Can thiệp nội mạch là kỹ thuật ít xâm lấn, hậu phẫu nhẹ nhàng, bệnh nhân hồi phục sức khỏe nhanh, thời gian điều trị ở bệnh viện ngắn. Nhiều kỹ thuật can thiệp nội mạch có kết quả rất tốt mà không có phẫu thuật truyền thống nào trước đây đạt được. Các kỹ thuật can thiệp nội mạch để điều trị các bệnh tim mạch mà thế giới đang thực hiện (đặt stent điều trị hẹp động mạch vành, đặt dù bít lỗ thông liên thất, thông liên nhĩ, nong hẹp van hai lá, v.v.) đều được triển khai ở nhiều trung tâm tim mạch trong cả nước như Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, Viện Tim mạch Quốc gia, Học viện Quân y, Bệnh viện Trung ương Huế, Viện Tim mạch TP Hồ Chí Minh... Đến nay nhờ ứng dụng kỹ thuật can thiệp nội mạch, nhiều loại bệnh như: tim mạch, thần kinh, tiêu hóa, hô hấp,... đã được điều trị thành công. Ngoài ứng dụng trong điều trị các bệnh tim mạch, kỹ thuật can thiệp nội mạch còn được ứng dụng trong chẩn đoán và điều trị một số bệnh về sọ não: Chẩn đoán các dị dạng bất thường của động mạch não, u não; ứng dụng điều trị các bệnh mạch thần kinh, trong đó điều trị các nguyên nhân hay gặp nhất gây tai biến mạch não có chảy máu màng não là phình mạch và dị dạng động tĩnh mạch. Những kỹ thuật can thiệp nội mạch phức tạp hơn ở một số nước tiên tiến trên thế giới cũng được nghiên cứu và ứng dụng thành công tại Việt Nam như: Nút tĩnh mạch cửa (đối với người bệnh có khối u gan lớn không thể cắt bỏ có thể điều trị triệt để khối u gan lớn); nối thông hệ thống cửa - chủ trong gan. Hỗ trợ sinh sản và chăm sóc trẻ sinh non Cách đây hơn 30 năm, ngày 25-7-1978, em bé thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON) đầu tiên trên thế giới đã ra đời tại Anh. Tại Việt Nam, ngày 30-4-1998, ba trường hợp TTTON đầu tiên thành công. Đây là một nỗ lực rất lớn của y học Việt Nam, khi mà TTTON ở Việt Nam được bắt đầu thực hiện từ những khó khăn như cơ sở vật chất yếu kém, lạc hậu, trình độ của đội ngũ bác sĩ còn nhiều bất cập so với khu vực và thế giới. Nhiều công nghệ mới trong kỹ thuật hỗ trợ sinh sản đã được nghiên cứu và ứng dụng thành công tại Học viện Quân y 103, Bệnh viện Phụ sản Trung ương, Bệnh viện Từ Dũ, Bệnh viện Phụ sản Hà Nội, Bệnh viện Trung ương Huế, Bệnh viện Phụ sản Thanh Hóa, Bệnh viện Đa khoa Cần Thơ... như: Kỹ thuật đông lạnh phôi bằng thủy tinh hóa, kỹ thuật hỗ trợ phôi thoát màng; nuôi cấy phôi nang; Sinh thiết phôi và chẩn đoán di truyền phôi; Kỹ thuật nuôi trứng trưởng thành trong ống nghiệm, v.v. giúp người bệnh có cơ hội tiếp cận các kỹ thuật hiện đại trên thế giới. Cùng với những tiến bộ trong việc hỗ trợ sinh sản, Bệnh viện Phụ sản Trung ương còn thành công trong việc chăm sóc trẻ sinh non. Hiện nay, trẻ sinh non nhất trên thế giới là Tom Thumb, người Đức chỉ nặng 275g. Nhưng ở Việt Nam, lần đầu trường hợp bé sơ sinh chỉ nặng có 500g đã được nuôi dưỡng thành công tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương. Năm 2010, Khoa sơ sinh Bệnh viện Phụ sản Trung ương đã điều trị và nuôi dưỡng thành công 47 trẻ sơ sinh dưới 900g; điều trị 145 cháu bị bệnh võng mạc do sinh non. Trong hoàn cảnh điều kiện trang, thiết bị, cơ sở vật chất y tế còn nhiều khó khăn, những thành công của các giáo sư, bác sĩ Việt Nam có thể nói ngang tầm với các quốc gia phát triển về y tế. Nội soi nhi khoa Điều trị bằng những phương pháp và kỹ thuật tiên tiến không chỉ mang đến sự sống cho nhiều người bệnh mà còn có ý nghĩa khẳng định nền y học Việt Nam trong xu thế khoa học - kỹ thuật phát triển như vũ bão. Với những kỹ thuật nội soi nhi khoa tại Bệnh viện Nhi Trung ương ngành y Việt Nam càng khẳng định được chỗ đứng trong khu vực và quốc tế. Nếu như thành công trong việc chữa trị bằng phương pháp nội soi của bệnh viêm mủ màng cơ tim tạo ra bước tiến quan trọng cho nội soi lồng ngực thì nội soi thoát vị cơ hoành tuổi sơ sinh ở Bệnh viện Nhi Trung ương đã gây tiếng vang trong giới y học trong nước và quốc tế trong lĩnh vực nội soi cho trẻ nhẹ cân, ít tháng. Khi phẫu thuật nội soi ra đời, các nhà ngoại nhi của Mỹ đã nhanh chóng ứng dụng kỹ thuật này để xử trí thoát vị cơ hoành. Nhưng họ đã thất bại với những trường hợp suy hô hấp nặng của trẻ sơ sinh (dưới 72 giờ sau khi sinh), do vậy, họ cho rằng, khó có thể thành công khi mổ nội soi thoát vị cơ hoành trẻ sơ sinh. Nhưng tất cả những trở ngại trên đã được Bệnh viện Nhi Trung ương giải quyết thành công, đưa Việt Nam không chỉ trở thành nước thứ ba trên thế giới có thể nội soi bệnh lý này mà còn là nước đầu tiên trên thế giới thành công trong việc nội soi trẻ sơ sinh ngay cả với trẻ chỉ cân nặng 1,8 kg. Mặc dù nội soi u nang ống mật chủ bắt đầu xuất hiện từ năm 1995 nhưng cho đến nay nó vẫn là thách thức của phẫu thuật nội soi vì trong quá trình phẫu thuật rất nhiều biến chứng có thể xảy ra. Khắc phục những hạn chế của các kỹ thuật nội soi trước đây, Bệnh viện Nhi Trung ương điều trị căn bệnh này với nhiều phương pháp y học tiên tiến, là một trong những trung tâm có nhiều kinh nghiệm nhất trên thế giới, với 350 ca phẫu thuật đạt tỷ lệ thành công cao. Hiện nay, bệnh viện đã thực hiện đồng thời cả hai kỹ thuật cắt nang và nối ống gan với ruột non; nối ông gan với tá tràng (trong đó phương pháp nối ống gan với tá tràng đơn giản hơn, nhanh hơn nhưng cho kết quả khả quan như với nối ống gan với ruột non). Tạo hình thực quản cho những trường hợp teo thực quản bẩm sinh bằng đại tràng ngang, qua nội soi ổ bụng là thành công mới nhất của nội soi nhi khoa Việt Nam. Việt Nam cũng là nước đầu tiên mổ nội soi cắt gần hết tụy để điều trị hạ đường i-su-lin, mổ chữa teo trực tràng, mổ cắt thận bằng 1 troca, mổ nội niệu quản - niệu quản bằng 1 troca. Trong điều trị ung thư Lần đầu ở Việt Nam, Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu Bệnh viện Bạch Mai đã tiến hành triển khai thành công chụp PET/CT để chẩn đoán và mô phỏng lập kế hoạch xạ trị cho bệnh nhân ung thư. Có thể nói, ứng dụng hình ảnh PET/CT để mô phỏng lập kế hoạch xạ trị gia tốc, đặc biệt là xạ trị điều biến liều (IMRT) là một kỹ thuật cao của xạ trị hiện nay. Sử dụng hình ảnh PET/CT để làm mô phỏng trong xạ trị gia tốc với kỹ thuật điều biến liều (IMRT) sẽ giúp các thầy thuốc xác định chính xác vùng khối u có các tế bào ác tính để lập kế hoạch xạ trị được chính xác. Nhiều trường hợp hình ảnh khối u không phát hiện thấy trên CT, MRI, nhưng lại thấy rõ trên hình ảnh PET. Do vậy, hiệu quả điều trị sẽ được nâng cao, chính xác, an toàn hơn cho người bệnh. Bên cạnh đó, hệ thống dao gamma quay (Rotating gamma knife) cũng là thiết bị xạ phẫu hiện đại nhất từ trước đến nay trong các thế hệ dao gamma. Hệ thống này thường được chỉ định để điều trị các bệnh về sọ não, giúp bác sĩ điều trị các tổn thương và các khối u sọ não không có chỉ định phẫu thuật hoặc không thể phẫu thuật mở được. Có thể nói, ứng dụng những kỹ thuật tiên tiến hiện đại đã giúp người bệnh có cơ hội được điều trị bằng công nghệ mới với chi phí rẻ hơn thay vì phải ra nước ngoài và cũng khẳng định rằng, đội ngũ y, bác sĩ tại Việt Nam có thể hoàn toàn làm chủ được các kỹ thuật cao trong việc điều trị, đem lại hy vọng sống cho bệnh nhân ung thư.