Do không biết bản chất 21 bộ hồ sơ do nhân viên tín dụng của công ty lập ra là giả nhằm chiếm đoạt số tiền trên 44,43 tỷ đồng, nên cấp trên tin cấp dưới và ngược lại.

Vì vậy nhiều cán bộ nhân viên của Công ty tài chính cao su (Công ty TCCS - nay đã giải thể - PV) phải vào vòng lao lý.

Mới đây bà Nguyễn Thị Lệ Hằng (SN 1962, ngụ phường Tân Thành, quận Tân Phú, TP.HCM), là bị cáo bị tuyên phạt 5 năm tù giam trong vụ án Trần Quốc Hoàng (SN 1978, nguyên nhân viên tín dụng Công ty TCCS, bị xử chung thân) can tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản; vi phạm quy định cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng”, có đơn cầu cứu gửi Báo Kinh doanh & Pháp luật với lý do bà bị oan và đã có đơn kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm số 180/2015/HSST ngày 4-6-2015, tuyên bà Hằng 5 năm tù.

Bị quy là “kiểm soát viên” để định tội

Vu 'Nhan vien tin dung lua dao': Vi sao bi cao keu oan? - Anh 1

Bà Nguyễn Thị Lệ Hằng trình bày vụ án.

Theo trình bày của bà Hằng, việc tòa sơ thẩm xử bà 5 năm tù là bỏ sót nhiều chứng cứ và gây oan sai. Bởi hồ sơ điều tra ngay đầu không thể hiện rõ chứng cứ chứng minh về hành vi phạm tội của bà Hằng. Những lý do bà Hằng cho mình bị oan được đưa ra là bà chưa bao giờ biết rõ hồ sơ tín dụng của Hoàng chuyển đến không đủ điều kiện cho vay.

Dù là phó phòng kế toán, làm việc theo sự phân công của Trưởng phòng Kế toán kiêm Kế toán trưởng, mỗi cá nhân trong phòng kế toán đều được Trưởng phòng giao cho một công việc riêng biệt và chịu trách nhiệm cụ thể về phần công việc đảm trách. Nhiệm vụ chính của tôi là cập nhật sổ sách kết toán, tổng hợp số liệu kế toán hàng ngày và báo cáo cho Ngân hàng Nhà nước (NHNN).

“Theo quy định của công ty, kế toán tín dụng có nhiệm vụ tiếp nhận hồ sơ do cán bộ tín dụng chuyển xuống, kế toán tín dụng kiểm tra xong mới lập và ký vào phiếu chi. Chứng từ đến tôi chỉ là phiếu chi đã được lập và giấy đề nghị giải ngân đã được giám đốc duyệt và phải có đầy đủ 4 chữ ký, được đóng dấu mộc của công ty theo quy định. Nhiệm vụ của tôi khi ký tên vào mục “kiểm soát” trên phiếu chi nhằm đối chiếu họ tên người vay, số tiền vay giữa giấy đề nghị giải ngân và phiếu chi. Có khớp thì tôi mới ký”, bà Hằng trình bày.

Một lý do khác bà Hằng kêu oan, đó là bà Hằng không phải là thành viên của Ban kiểm soát, không phải là Kiểm soát viên như bản án sơ thẩm nhận định. Vì Ban kiểm soát được thành lập theo quyết định chuẩn y của NHNN. Theo quyết định mà bà Hằng đưa phóng viên kiểm chứng thì Ban kiểm soát của Công ty Tài chính Cao su có 15 thành viên giữ vai trò chuyên trách, nhưng không có tên bà Hằng. Khi vào thanh tra Công ty TCCS, phía NHNN đã có kết luận và đã quy trách nhiệm thuộc Ban kiểm soát trong việc kiểm tra giám sát hoạt động của Công ty, chứ không phải tôi.

“Đối với 21 hợp đồng tín dụng trong vụ án, tôi không có khả năng biết được đó là giả. Tại tòa bị cáo Hoàng đã thừa nhận làm hồ sơ cho vay giả để lấy tiền của công ty. Người vay trong hồ sơ là giả, nhưng thủ quỹ vẫn đưa tiền cho Hoàng, dù tên người nhận tiền trên các phiếu chi không phải là Hoàng.

Thủ quỹ là người trực tiếp giữ tiền của công ty, trực tiếp tiếp xúc với khách hàng. Việc thủ quỹ đưa tiền cho Hoàng mới chính là hành vi gây mất tiền trong vụ án này. Việc tôi ký vào các phiếu chi cho 21 hồ sơ trên là bình thường như các khoản chi khác, vì đây là nghiệp vụ kế toán thông thường mà kế toán phải lập một khi chứng từ đã có đầy đủ chữ ký của các bộ phận tác nghiệp và đã được giám đốc ký duyệt. Tôi chỉ biết hồ sơ giả khi cơ quan điều tra làm việc”, bà Hằng nói tiếp.

Bị cáo chỉ biết khi làm việc với công an

Về vụ án này và đơn kêu oan của bị cáo Hằng cùng một số bị cáo khác. Ông Đinh Văn Quế (nguyên Chánh tòa hình sự TAND Tối cao), nhận định: “Đối với bị cáo Nguyễn Thị Lệ Hằng, trước hết cần khẳng định bị cáo Hằng tuy là Phó phòng kế toán nhưng không phải là người có chức vụ, quyền hạn trong hoạt động tín dụng (cho vay) của công ty. Bị cáo Hằng chỉ có nhiệm vụ cập nhật sổ sách kế toán, tổng hợp số liệu kế toán hàng ngày và báo cáo cho NHNN theo sự phân công của Kế toán trưởng.

Tòa án cấp sơ thẩm xác định “Nguyễn Thị Lệ Hằng là Kiểm soát viên, Phó phòng kế toán thừa nhận biết rõ 21 hồ sơ tín dụng của Trần Quốc Hoàng chuyển đến đều không đủ chứng cứ, tài liệu, không đủ điều kiện cho vay”.Việc xác định bị cáo Hằng biết rõ 21 hồ sơ tín dụng của Trần Quốc Hoàng chuyển đến không đủ điều kiện cho vay là không đúng. Thực tế là sau khi CQĐT cho bị cáo Hằng biết, lúc đó bị cáo mới biết. Trong quá trình điều tra đến khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Hằng chưa có lời khai nào nhận là mình biết rõ hồ sơ tín dụng của Hoàng chuyển đến là giả. Bị cáo Hằng cũng không phải là “Kiểm soát viên” vì đây là một chức danh có vai trò độc lập do Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam bổ nhiệm và NHNN chuẩn y”.

Cũng theo ông Đinh Văn Quế, tòa sơ thẩm nhận định bị cáo Hằng biết sai nên mới thắc mắc, nhưng thực tế bị cáo Hằng chỉ thắc mắc trong quá trình làm việc có nêu sự thắc mắc về hai khái niệm “thế chấp và cầm cố” chứ không phải thắc mắc về tính hợp pháp của hợp đồng cho vay.

Tại tòa sơ thẩm, chủ tọa phiên tòa cũng đã xét hỏi thì trưởng phòng kế toán có giải thích và nói rõ đây là công việc của phòng tín dụng, giám đốc đã duyệt cho vay, phòng kế toán chỉ thực hiện. Hơn nữa việc thắc mắc của bị cáo Hằng xảy ra trước khi Hoàng lập các hồ sơ giả mạo để chiếm đoạt hơn 44 tỷ đồng của công ty, chứ không phải trong quá trình Hoàng lập các hồ sơ giả mạo.

Do đó có thể khẳng định bị cáo Hằng hoàn toàn không biết các hợp đồng vay tiền do bị cáo Hoàng lập là giả. Vẫn theo vị luật sư này thì “Bị cáo Hằng không được đào tạo về nghiệp vụ ngân hàng và cũng không làm ở phòng tín dụng, nên có căn cứ nói rằng bị cáo Hằng không phát hiện được 21 hợp đồng do bị cáo Hoàng lập là giả. Việc bị cáo Hằng ký tên vào mục “Kiểm soát” trên phiếu chi là nghiệp vụ kế toán tài chính thông thường để giải ngân như các khoản chi khác. Khi đã có đủ 4 chữ ký thì không có lý do gì mà bị cáo Hằng không ký.

Đây không phải trường hợp nếu không có chữ ký của bị cáo Hằng thì bị cáo Hoàng không “vay” được tiền. Theo quy trình kế toán tài chính thì bị cáo Hằng chỉ có nhiệm vụ đối chiếu họ và tên người vay, số tiền vay với giấy duyệt giải ngân và phiếu chi có khớp hay không? Nếu khớp thì bị cáo Hằng mới ký vào phiếu chi”, ông Quế khẳng định.

Công ty TCCS (thuộc Tập đoàn Công nghiệp cao su Việt Nam) là tổ chức tín dụng phi ngân hàng, có chức năng nhận tiền gửi, phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi để huy động vốn; cho vay ngắn, trung, dài hạn… Trần Quốc Hoàng làm nhân viên Phòng Tín dụng Công ty TCCS từ tháng 5-2004.

Do hơn 300 lần trốn việc sang Campuchia và Singapore đánh bạc thua liểng xiểng, Hoàng mượn sổ đỏ của người thân, bạn bè dùng làm tài sản thế chấp để vay của Công ty TCCS. Các hồ sơ vay do Hoàng lập đều thiếu nhiều thủ tục.

Do trước đó nhiều hồ sơ Hoàng thẩm định cho vay đều trả tiền đầy đủ nên từ trưởng phòng tín dụng của công ty là ông Vương Đáng (đã chết) đến Tổng giám đốc Công ty TCCS và các cán bộ, nhân viên các phòng ban khác tin tưởng ký duyệt, thậm chí thủ quỹ đưa tiền trực tiếp cho Hoàng (thay vì phải đưa cho khách hàng trên hợp đồng).

Sau khi đã nhận tiền vay, Hoàng đi nhờ những người bán vé số dạo… ký vào phần phần khách hàng nhận tiền trên phiếu chi để sau đó nộp phiếu này cho thủ quỹ! Với thủ đoạn giả hồ sơ, Hoàng đã lập 21 bộ hồ sơ tín dụng, chiếm đoạt của Công ty TCCS tiền 44,43 tỷ đồng.

Ngày 4/6/2015, trong phiên sơ thẩm TAND TP.HCM tuyên phạt các bị cáo Trần Quốc Hoàng tù chung thân về tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; Phan Minh Anh Ngọc (nguyên Tổng giám đốc Công ty TCCS) 5 năm tù; Võ Thị Hoàng Hồng (nguyên thủ quỹ) 3 năm án treo về tội “thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”. Các bị cáo nguyên là kế toán, thủ quỹ của công ty là Đặng Thị Kim Anh (7 năm tù), Nguyễn Thị Lệ Hằng (5 năm tù), Lê Anh Tuấn, Nguyễn Hồng Hải, Trần Thị Thu Hiền mỗi bị cáo 4 năm tù về tội “vi phạm các quy định trong hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng.

Bài - ảnh: Hoàng Trúc Mai/KD&PL