Quế gồm nhiều chủng loại ở Việt Nam , có 4 loài phổ biến là quế đơn hay quế bì, quế quan (quế ống), quế thanh (quế bì), quế rành (quế lợn). Các loài quế đều cung cấp bộ phận dùng là vỏ thân hoặc vỏ cành.

Quếgồm nhiều chủng loại ở Việt Nam , có 4 loài phổ biến là quế đơn hay quế bì, quế quan (quế ống), quế thanh (quế bì), quế rành (quế lợn). Các loài quế đều cung cấp bộ phận dùng là vỏ thân hoặc vỏ cành. Vỏ thân được gọi là quế thượng châu (loại tốt nhất). Vỏ ở cành to là quế thượng biểu, vỏ ở cành nhỏ là quế chi. Thường thu hoạch vỏ ở những cây quế đã trồng từ 5 - 7 năm trở lên.

Dược liệu là những mảnh vỏ dày, mặt ngoài mịn, mặt cắt ngang màu đỏ, tía nâu nhiều dầu, mùi thơm đặc biệt đậm và mát, vị ngọt trước, sau cay là loại tốt, được gọi là ngọc quế.

Vo que hoi duong, thong huyet mach - Anh 1

Quế thanh có tác dụng diệt khuẩn, giải độc.

Trong y học cổ truyền, quế được coi là 1 trong 4 vị thuốc quý (sâm, nhung, quế, phụ) có vị ngọt cay, mùi thơm, tính nóng, có tác dụng hồi dương thông huyết mạch, diệt khuẩn làm nóng, giảm đau tiêu thực, chống nôn giải độc. Liều dùng hằng ngày 2-6g có khi hơn dưới dạng sắc uống, thuốc bột. Dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác trong những trường hợp sau:

Chữa cảm mạo: Quế 8g, thược dược 6g, cam thảo 6g, sinh khương 6g, đại táo 4 quả. Tất cả thái nhỏ sắc với 400ml nước, còn 100ml thuốc uống làm 2 lần trong ngày.

Chữa suy nhược cơ thể do bệnh đường tiêu hóa: Quế 4g, đẳng sâm, bạch truật, hoàn kỳ, đại táo mỗi vị 12g, trần bì, ngũ vị tửmỗi vị 6g, cam thảo 4g, gừng 2g. Sắc uống ngày một thang.

Chữa dương hư, khí lực suy giảm, liệt dương, liệt tinh, thai nghén khó khăn: Quế 12g, thục địa 24g, sơn thù, hoài sơn, bạch linh mỗi vị 16g, mẫu đơn, bạch tả mỗi vị 8g. Tất cả tán bột làm viên, mỗi ngày 30 - 40g. Có thể sắc uống.

Chữa tiêu chảy: Quế 4g, hạt cau già 4g, gừng nướng 2 lát, gạo 10g. Các dược liệu phơi khô, tán nhỏ, gạo rang vàng, tán bột. Trộn đều sắc đặc uống trong ngày. Hoặc quế 10g, gừng tươi 25g, long não hoặc bạc hà 20g, đại hoàng 20g. Tất cả thái nhỏ pha trong rượu 70 độ để được 1 lít. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 5ml.

Chữa thấp khớp mạn tính thể hàn: Quế 12g, rễ cỏ xước 40g, hy thiêm 20g, thổ phục linh 20g, cỏ nhọ nồi 16g, ngải cứu 12g, thương nhĩ 12g, thiên niên kiện 12g, tất cả sao vàng, sắc đặc ngày uống 1 thang, trong 7 - 10 ngày liền. Hoặc quế chi 8g, độc hoạt, tang ký sinh, tần giao, bạch linh, phòng phong, tục đoạn, ý dĩ, bạch thược, xuyên khung, ngưu tất, thục địa, đẳng sâm, mỗi vị 12g, xuyên khung 8g, cam thảo, tế tân mỗi vị 6g. Sắc uống ngày 1 thang.

Chữa viêm khớp dạng thấp: Quế, bạch thược, thương truật, phòng phong, tri mẫu mỗi vị 12g, gừng tươi, ma hoàng, hoắc quế phụ, mỗi vị 8g, cam thảo 6g, sắc uống ngày 1 thang.

Chữa viêm phế quản mạn tính: Quế 12g, phục linh 16g, bạch truật 6g, cam thảo 4g. Sắc uống trong ngày.

Chữa đái tháo đường: Quế 3g, sơn dược 15g, phụ tử chế 12g, phục linh 12g, sơn thù 10g, trạch tả 10g, mẫu đơn bì 6g. Sắc uống 3 lần trong ngày.

Dùng ngoài chữa trúng phong, bại liệt nửa người: Quế 20g, đinh hương, nghệ, rau sam, dây bìm bìm, bá đậu gió, xương bồ, huyết giác mỗi thứ 12g. Tất cả tán nhỏ trộn với rượu và nước tiểu mỗi thứ 1 bát mà xoa bóp.

Chữa nhọt mủ: Quế 10g, hành ta 2 củ giã nhỏ, đắp băng lại trong 24 giờ.

Chú ý: Không dùng cho phụ nữ có thai và người âm hư, dương thịnh.

DS. Đỗ Huy Bích