Đây là thông tin được đưa ra tại Hội thảo các thành tựu nổi bật về nghiên cứu và ứng dụng công nghệ vũ trụ giai đoạn 2006-2015 và định hướng phát triển giai đoạn 2016-2020 của Việt Nam do Bộ Khoa học và Công nghệ diễn ra ngày 30/9 vừa qua.

Ngày 14/6/2006 Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trong Quyết định số 137/2006/QĐ-TTg về Chiến lược nghiên cứu và ứng dụng công nghệ vũ trụ đến năm 2020. Sau 10 năm triển khai, việc nghiên cứu ứng dụng công nghệ vũ trụ đã được phát triển tại nhiều ngành. Theo sự phát triển của thế giới, việc ứng dụng cơ sở dữ liệu ảnh vệ tinh cho các ngành đã được mở rộng và thường xuyên triển khai tại Việt Nam trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh… Công nghệ vũ trụ đã hỗ trợ lớn cho phòng chống, giảm nhẹ thiên tai và biến đổi khí hậu, quản lý và phát triển nguồn tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là tài nguyên biển, phát triển nông nghiệp, thiết lập cơ sở hạ tầng viễn thông và truyền hình qua vệ tinh, các ứng dụng định vị vệ tinh, sử dụng khoảng không vũ trụ vì mục đích thương mại và các mục đích hòa bình khác…

Những thành tựu nổi bật nhất trong 10 năm qua phải kể tới chính là việc Việt Nam đã giành được các vị trí quỹ đạo vệ tinh để phóng thành công các vệ tinh VINASAT-1, VINASAT-2 và VNRedSat-1. Việc có vệ tinh riêng giúp chúng ta chủ động trong việc đảm bảo thông tin liên lạc cho vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo và đảm bảo thông tin phục vụ mục đích an ninh, quốc phòng.

Viet Nam se xay dung cac tram phong ten lua o trong nuoc vao nam 2035 - Anh 1

vinasat-1 đã được phóng lên quỹ đạo vào tháng 4/2008, ghi tên Việt Nam vào bản đồ các quốc gia có vệ tinh trên thế giới

Tính đến nay, Việt Nam đã đầu tư sở hữu các thiết bị vũ trụ gồm: Vệ tinh thông tin truyền thông VINASAT-1 và 2 do Bộ Thông tin &Truyền thông quản lý; Vệ tinh quan sát Trái đất VNREDSAT-1 do Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam quản lý; Trạm thu mặt đất ảnh Vệ tinh SPOT do Bộ Tài nguyên và Môi trường quản lý; Trạm thông tin điện tử hàng hải Việt Nam - Vệ tinh INMARSAT do Bộ Giao thông Vận tải quản lý; Hệ thống quan sát tàu cá, ngư trường, nguồn lợi thủy sản bằng công nghệ vệ tinh (MOVIMAR)” do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quản lý... Bên cạnh đó, hệ thống các phòng thí nghiệm cơ bản về vật liệu, y sinh, công nghệ sinh học, vật liệu nano… được hình thành từ những năm 1980 cho đến nay cũng được đánh giá là nền móng cho hoạt động nghiên cứu và ứng dụng công nghệ vũ trụ.

Trong giai đoạn từ nay tới năm 2030 sẽ hướng tới mục tiêu phát triển các ứng dụng công nghệ vệ tinh phục vụ hiệu quả cho kinh tế - xã hội và đến năm 2035 thì sẽ tự thiết kế một số thành phần của vệ tinh và xây dựng các trạm phóng tên lửa ở trong nước.

Theo Chủ tịch Hội đồng quản lý Viện Nghiên cứu khoa học biển và hải đảo Nguyễn Bá Diến, để hoàn thành được mục tiêu, nhiệm vụ của Chiến lược nghiên cứu và ứng dụng công nghệ vũ trụ đến năm 2020, Chính phủ và các bộ ngành cần khẩn trương xây dựng thực hiện dự án xây dựng Luật Vũ trụ của Việt Nam và các văn bản luật chuyên ngành khác có liên quan trong khung pháp lý cơ bản của quốc gia về lĩnh vực vũ trụ với định hướng chung là phù hợp với pháp luật quốc tế và các nguyên tắc chung trong sử dụng khoảng không vũ trụ. Kèm theo đó là một chiến lược đào tạo nguồn nhân lực trọng điểm theo mô hình các quốc gia tiên tiến.

TH (Tổng hợp)