Nếu như các bác sĩ phẫu thuật còn có ca nặng, ca nhẹ thì những người làm công tác gây mê hồi sức thường không có khái niệm “nặng, nhẹ” mà mức độ nguy hiểm là như nhau. Duy trì sự sống cho người bệnh suốt quá trình mổ chỉ mới đi được nửa chặng đường, bởi còn đó trọng trách hồi sức sau mổ. Lúc này tính mạng của người bệnh như một sợi tơ, chỉ cần một cơn gió nhẹ thổi qua cũng có thể đứt. Chính vì vậy mà nó được gọi là nghề đi trước về sau...

Những lời chia sẻ hết sức chân thành này của PGS.TS.BS cao cấp Trần Thị Kiệm, nguyên Thư ký khoa học và đào tạo Khoa Gây mê hồi sức (BV Bạch Mai) đã thể hiện rõ tính chất công việc của ngành gây mê hồi sức. Là phó giáo sư nữ đầu tiên về chuyên ngành gây mê hồi sức ở Việt Nam, PGS.TS Trần Thị Kiệm, vẫn dành thời gian cho đề tài nghiên cứu khoa học, cùng với đó là những lần đi giảng dạy, truyền đạt kiến thức kinh nghiệm tới các đồng nghiệp trẻ. PGS Trần Thị Kiệm sinh năm 1958 và lớn lên ở mảnh đất đầy nắng gió của TP hoa phượng đỏ Hải Phòng, ở độ tuổi đáng lẽ PGS.TS Trần Thị Kiệm được nghỉ ngơi sau nhiều năm liên tục cống hiến cho ngành y khoa nhưng có lẽ cũng bởi cái duyên với mảnh đất và con người TP cảng khi chị có nhiều năm công tác giảng dạy tại trường ĐH Y dược Hải Phòng, BV Việt-Tiệp, BV Bạch Mai. Nay chị còn tham gia xây dựng, phát triển và làm Trưởng khoa Gây mê hồi sức cho BVĐK quốc tế Hải Phòng; mở các lớp đào tạo liên tục và đào tạo sau ĐH về gây mê hồi sức của trường ĐH Y dược Hải Phòng. Nói về mối duyên nghề nghiệp của mình, PGS Trần Thị Kiệm chia sẻ: “Cuối năm học cấp ba, trong một giờ học thể dục với môn chạy quanh sân trường Ngô Quyền (Hải Phòng), khi chạy, cô bạn thân của tôi bị đau chân, sau một tuần thì mất mà không biết nguyên nhân. Mất mát đó đã khiến tôi ấp ủ trở thành bác sĩ để chữa bệnh cứu người. Và mơ ước đó đã thành hiện thực khi mình thừa 3 điểm vào ĐH Y Hà Nội”.

Vien gach “lat nen” cho nganh gay me hoi suc Viet Nam - Anh 1

PGS.TS Trần Thị Kiệm đang hướng dẫn kỹ thuật mask thanh quản cho các đồng nghiệp tại BV Hùng Vương. Ảnh: Đài Sơn

Tốt nghiệp bác sĩ đa khoa ngoại sản trường ĐH Y Hà Nội (khóa 1975-1981), PGS Trần Thị Kiệm được ở lại phân hiệu 2 ĐH Y Hà Nội. Sau 2 năm học BSCKI ngoại, chị làm giảng viên bộ môn Ngoại, trường ĐH Y dược Hải Phòng và là nữ phẫu thuật viên trong gần 10 năm ở BV Việt - Tiệp (Hải Phòng). Sau đó do yêu cầu của trường; chị chuyển sang học chuyên khoa gây mê ở BV Việt Đức (Hà Nội) liên tục trong 3 năm để tốt nghiệp chuyên khoa cấp I về gây mê hồi sức. Vì say mê với nghề nên không chịu dừng lại ở một bác sĩ đa khoa giỏi, mà chị còn chịu khó tìm tòi, nghiên cứu khoa học. Chị kể: “Năm 1996 tôi là nghiên cứu về thuốc gây mê bởi trước đó tôi thấy mọi bệnh nhân toàn dùng thuốc Thiopental, mà khi dùng thuốc này thì lâu tỉnh, gây quên”. Chị khoe: “Năm 1995, tôi thấy một vị bác sĩ người Pháp mang sang Việt Nam một loại thuốc gây mê rất hay (proporol) mà bấy giờ ở nước mình chưa có. Nhận thấy thuốc này vừa mê nhanh, tỉnh nhanh và điều quan trọng là giữ được trí nhớ rất tốt. Điều đó thôi thúc tôi muốn làm cái gì đó giúp cho ngành gây mê mà ứng dụng được ngay tại BV Mắt T.Ư”.

Để thuốc gây mê đó ứng dụng lần đầu tiên ở Việt Nam, BV Mắt cũng thật lắm nan giải không chỉ khó khăn về kinh phí. “Anh chị em trong gia đình toàn dành dụm gửi tiền cho tôi làm nghiên cứu. Mặc dù mới sinh, nhưng vẫn bế con trên tay đi khắp để nhờ chỗ tá túc, nhất định phải để tiền đó làm nghiên cứu thuốc gây mê. Ngày đó mua cái nhà chỉ 6 triệu đồng trong khi tổng số tiền nghiên cứu thuốc gây mê trị giá bằng 2/3 cái nhà đấy”, PGS Trần Thị Kiệm chia sẻ. Trong quá trình giảng dạy ở trường ĐH Y dược Hải Phòng, năm 2000, chị được sang Pháp để chuẩn bị bài giảng về thuốc gây mê bằng tiếng Pháp do tổ chức các trường ĐH Pháp ngữ tài trợ. Suốt 3 tháng ở đó, chị thấy đồng nghiệp sử dụng mask thanh quản trong cấp cứu gây mê hồi sức. Thấy hay, chị đã xin một cái về tìm hiểu. Khi về nước, suốt thời gian dài (2002 - 2007), chị bắt tay vào đề tài nghiên cứu khoa học về lĩnh vực này tại Học viện Quân y Bộ Quốc phòng.

Là người luôn tiên phong trong nghiên cứu khoa học và giỏi về chuyên môn, khi BV Bạch Mai thành lập Viện Tim mạch, chị là người đầu tiên được mời về làm gây mê hồi sức cho phẫu thuật tim mở của BV Bạch Mai. Có lẽ nhờ lòng say mê mới nghiên cứu khoa học mà năm 2013, chị được phong hàm phó giáo sư nữ gây mê hồi sức đầu tiên ở Việt Nam. Hiểu được vai trò của kiểm soát hô hấp trong gây mê hồi sức là vô cùng quan trọng. Không kiểm soát được đường thở thì bệnh nhân sẽ tử vong hoặc để lại di chứng nặng nề do não thiếu oxy kéo dài. Kỹ thuật gây mê hồi sức ngày càng được quan tâm và ứng dụng nhiều trong quá trình vô cảm cho người bệnh khi can thiệp thủ thuật, phẫu thuật. Khi chưa có mask thanh quản, ống nội khí quản là một trong những loại ống thở được ứng dụng nhiều nhất để duy trì hô hấp cho BN. Tuy nhiên, khi sử loại ống này cũng có một số khó khăn nhất định như: kỹ thuật thực hiện khó, cần có đèn soi thanh quản và bác sĩ chuyên khoa. Trong và sau khi đặt thông khí quản bằng ống nội khí quản có thể gặp các tai biến như: Tổn thương răng miệng, tổn thương dây thanh âm, sẹo hẹp khí quản. Vì vậy, mask thanh quản ra đời là phương pháp tốt nhất cho những người không đặt được ống nội khí quản, đặc biệt khắc phục được những khó khăn kể trên. “Mới đầu làm đề tài này, tôi nghĩ chỉ áp dụng ở Hải Phòng thôi vì sợ không có tính khả thi. Nhưng sau khi hướng dẫn và ứng dụng ở các tỉnh Phú Thọ, Sơn La, Hòa Bình, Lào Cai… cùng tham gia đề tài với mình thực hiện thành thạo, tôi tiếp tục hướng dẫn cho các BV tuyến tỉnh , các BV tư nhân và Sở Cảnh sát PCCC TP Hà Nội”, PGS.TS Trần Thị Kiệm chia sẻ.

PGS Trần Thị Kiệm hy vọng, mask thanh quản không chỉ ứng dụng cho gây mê phẫu thuật tai xương chũm, mà còn được ứng dụng rộng rãi trong phẫu thuật các bệnh tai mũi họng và phổ cập hơn cho các nhân viên cứu hộ, cứu nạn và đặc biệt trong cấp cứu suy hô hấp cấp, cấp cứu ngừng tuần hoàn và trong gây mê phẫu thuật. Mặc dù cả đời làm công việc thầm lặng, căng thẳng, đối mặt thường xuyên với nhiều nguy cơ, nguy hiểm, giữa sự sống và chết nhưng những thành công trong công việc, những phát hiện trong nghiên cứu… đã trở thành niềm vui và là động lực để PGS Trần Thị Kiệm càng gắn bó và yêu nghề, quyết tâm truyền dạy, đào tạo thế hệ tiếp nối. Khi được hỏi, sau mỗi ca mổ, người ta chỉ chú ý cảm ơn người cầm dao trong cuộc mổ mà chẳng ai quan tâm đến người làm gây mê, thậm chí một lời động viên cũng không nhiều, thì PGS Trần Thị Kiệm chỉ cười rồi bảo, nghề này cũng thật đặc biệt, đặc biệt đến chạnh lòng, bởi thành công luôn thuộc về người khác còn rủi ro khi xảy ra lại dành cho mình. Nói là vậy nhưng trong ánh mắt của PGS Trần Thị Kiệm vẫn ánh lên vẻ rạng ngời khi nhắc tới công việc mà mình đã trọn đời gắn bó.

Đài Sơn