Hiện nay, Việt Nam phải nhập từ 95-98% nguyên liệu premix, vitamin, axit amin, các chất phụ gia màu, mùi sử dụng trong chế biến thức ăn chăn nuôi. Thị trường nhập khẩu chủ yếu từ từ Trung Quốc, các nước châu Âu và Nhật Bản.

Vi sao toi 98% phu gia san xuat thuc an chan nuoi phai nhap khau? - Anh 1

Việt Nam chỉ chủ động được khoảng 60- 65% nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi. Ảnh: Internet

Đó là thông tin được ông Nguyễn Đăng Vang, Chủ tịch Hội Chăn nuôi Việt Nam cho biết tại buổi tọa đàm “Phát triển chăn nuôi bền vững trong bối cảnh hội nhập” diễn ra sáng ngày 28-11.

Đi sâu phân tích nguyên nhân, theo ông Vang cho đó là bởi các doanh nghiệp Việt Nam không đầu tư sản xuất mặc dù Nhà nước kêu gọi và khuyến khích. Cụ thể, đầu tư vào lĩnh vực này khó về công nghệ, quá lớn về chi phí. Trình độ kỹ thuật của cán bộ của Việt Nam chưa đáp ứng được yêu cầu. Bên cạnh đó, thị trường các nguyên liệu này trên thế giới quá nhiều, đa dạng mà giá không quá đắt.

Liên quan tới vấn đề nhập khẩu nguyên liệu cũng như sản xuất thức ăn chăn nuôi, theo ông Hoàng Thanh Vân, Cục trưởng Cục Chăn nuôi (Bộ NN&PTNT): Sản xuất thức ăn chăn nuôi công nghiệp là một trong những ngành hàng có tốc độ phát triển nhanh và quy mô lớn trong lĩnh vực nông nghiệp.

Trong giai đoạn 2010-2015, tốc độ phát triển của ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi đạt 8,4%/năm. Năm 2015, Việt Nam đã sản xuất 15,5 triệu tấn thức ăn chăn nuôi và dự báo năm nay con số này khoảng 17 triệu tấn.

Trong số 17 triệu tấn thức ăn chăn nuôi công nghiệp, Việt Nam chỉ chủ động được khoảng 60- 65% nguyên liệu (ngô, cám gạo, sắn khô, bột cá). Các loại nguyên liệu khác như bột thịt xương, DDGS và các loại thức ăn bổ sung khác phải nhập khẩu 98-99%. Như vậy, tỷ trọng các nguyên liệu thức ăn chăn nuôi phải nhập khẩu là rất lớn và một lượng ngoại tệ lớn đang mất đi.

Ông Vân phân tích thêm: Ở góc độ sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp sẽ cân nhắc tính cạnh tranh về lợi nhuận và chất lượng để quyết định nhập khẩu hay đầu tư sản xuất. Việc quy hoạch sản xuất ngô, đậu tương, bột cá làm nguyên liệu thức ăn chăn nuôi cũng cần phải xem xét lợi thế so sánh với các nước khác.

Nếu thu hút được ngành công nghiệp phụ trợ phục vụ sản xuất thức ăn chăn nuôi nói riêng, sản xuất các thiết bị máy móc phục vụ chăn nuôi và nông nghiệp nói chung, Việt Nam sẽ chủ động được sản xuất. Ngoài ra còn tạo ra nhiều việc làm, rút bớt được lao động ra khỏi lĩnh vực nông nghiệp.

Cũng theo ông Vân, hiện, Việt Nam có 207 doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi, trong đó có 58 doanh nghiệp FDI và 149 doanh nghiệp nội với thị phần tương ứng là 60%/40%. Trong số đó, 5 doanh nghiệp hàng đầu Việt Nam (Dabaco, Masan, GreenFeed, Vina, Lái Thiêu) chiếm 23% thị phần; 5 doanh nghiệp FDI lớn nhất (CP, Deheus, ANT, Jafa comfeed, Cargill) chiếm 37% thị phần.

Khi doanh nghiệp đầu tư sản xuất thức ăn chăn nuôi tại Việt Nam, Nhà nước luôn tạo điều kiện bình đẳng để doanh nghiệp nội và doanh nghiệp ngoại thuận lợi phát triển, cạnh tranh lành mạnh.

Tuy nhiên, ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi là ngành đòi hỏi công nghệ cao và vốn rất lớn. Doanh nghiệp nội mặc dù số lượng đông hơn nhưng đang yếu hơn doanh nghiệp FDI về vốn, công nghệ cũng như thị phần. Bởi vậy, thời gian tới, cần có những hỗ trợ tốt hơn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam phát triển mạnh hơn lĩnh vực này.

Thanh Nguyễn