Câu hỏi này đã được lý giải tại Tọa đàm “ Nhập khẩu than và đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia” trên Cổng Thông tin điện tử Chính phủ sáng 24/10 với sự tham gia của đại diện Bộ Công thương và Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV).

Vi sao luong than nhap khau tang manh gan day? - Anh 1

Cần có "cơ chế" để tăng sức cạnh tranh cho than trong nước. Ảnh: Internet

Theo số liệu báo cáo của Tổng cục Hải quan, 9 tháng đầu năm 2016, Việt Nam đã nhập khẩu hơn 9,7 triệu tấn than. Trong đó, quy hoạch ngành Than, năm 2016 Việt Nam nhập khẩu khoảng 3 triệu tấn than dành cho các nhà máy nhiệt điện. Như vậy, trong 9 tháng đầu năm 2016, lượng than nhập khẩu đã gấp 3 lần so với Quy hoạch.

Than nhập khẩu không chỉ phục vụ cho sản xuất điện

Với lượng than tồn kho trên cả nước đang ở mức gần 12 triệu tấn, thì dư luận đang đặt ra câu hỏi: Tại sao chúng ta lại nhập than nhiều trong thời gian gần đây, có phải do ngành than trong nước không bảo đảm được sức cạnh tranh...?

Theo Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Năng lượng (Bộ Công thương) Nguyễn Khắc Thọ, 3 triệu tấn than nhập khẩu theo quy hoạch là lượng than tính toán theo trách nhiệm của Bộ Công thương để đảm bảo cho sản xuất điện, chứ chưa tính đến phục vụ cho các lĩnh vực khác như xi măng, hóa chất, phân bón. Dự báo đến năm 2020 thì nhu cầu nhập khẩu than phục vụ cho các lĩnh vực này cũng tương đương 8 triệu tấn. Trong 9,7 triệu tấn than nhập khẩu 9 tháng đầu năm là bao gồm cả than cho sản xuất điện và sản xuất lĩnh vực khác nên sản lượng nhập khẩu than thực tế không tăng.

Tuy nhiên, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Năng lượng thừa nhận tác động của việc nhập khẩu làm tồn lượng than lớn, làm giảm sản lượng khai thác, ảnh hưởng đến kết quả sản xuất kinh doanh của TKV cũng như công việc của người lao động, nhất là công nhân hầm lò.

Theo Phó Tổng Giám đốc TKV Nguyễn Văn Biên, lượng than nhập khẩu và lượng than tồn năm 2016 là tương đương, trong phạm vi cho phép. Song, ông Biên cũng thừa nhận không lường hết khả năng lượng than nhập về tăng nhanh trong 9 tháng đầu năm do nhiều nhà máy cắt giảm sản lượng khai thác nhưng nhiều nước lại khuyến khích đẩy than ra nước ngoài. Bên cạnh đó, với mức thuế xuất nhập khẩu than bằng 0% nên lượng nhập khẩu tăng đột biến như vậy.

Cũng theo ông Biên, dự kiến lượng nhập khẩu sẽ chững lại khi một số nhà máy hàng năm vẫn nhập 2 - 3 triệu tấn than trong nhiều năm nay đã tiết chế sử dụng than nhập khẩu. Hơn nữa, giá than nhập khẩu đã tăng so với 6 tháng trước, hiện đang tiệm cận giá than trong nước và sẽ tăng trong thời gian tới.

Nhập khẩu than hạn chế được khai thác tài nguyên quốc gia và tính độc quyền của TKV

Theo ông Thọ, nhập khẩu than tác động đến lộ trình đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, để thay thế, hạn chế khai thác tài nguyên quốc gia và tính độc quyền của TKV buộc TKV phải điều chỉnh sản lượng, mở mỏ mới, thu hút người lao động, gia tăng sản lượng khi thị trường phục hồi. Dự kiến, năm 2017 Việt Nam sẽ phải nhập khoảng 4 triệu tấn than cho sản xuất điện và năm 2030 khoảng trên 7 triệu tấn.

Dự báo nhập khẩu vẫn tăng khi thuế nhập khẩu là 0 nên để tháo gỡ khó khăn cho ngành than, đầu tháng 10 vừa qua, Bộ Công thương đã báo cáo Thủ tướng Chính phủ điều chỉnh thuế tài nguyên và phí cấp quyền khai thác than.

Lý giải nguyên nhân khiến giá than trong nước luôn cao hơn giá than nhập khẩu, ông Thọ cho biết, do điều kiện khai thác cả ngành than, đa số mỏ đã khai thác sâu (300m so với mặt đất), chi phí sản xuất tăng 3 lần, chi phí vận tải tăng 4 lần so với năm 1995, thuế tài nguyên tăng trung bình 3 lần, phí cấp quyền khai thác tăng lên 12% đối với khai thác hầm lò và 14% so với khai thác lộ thiên.

Tỷ lệ khai thác, cơ giới hóa, quản lý của nhiều nước tốt hơn, trong khi ngành than ở Việt Nam đã cơ giới hóa nhưng còn thấp, công nghệ và quản lý cần hoàn thiện thời gian tới mới có thể giảm giá thành, nâng cao sức cạnh tranh.

Để giải quyết than tồn kho trong nước thì phải có cơ chế về giá theo thị trường, điều chỉnh thuế tài nguyên, phí cấp quyền… để giảm giá thành khai thác, tăng tính cạnh tranh cho than nội địa.

Trần Kiên