Nếu muốn người dân ý thức kỷ cương pháp luật, tức là tôn trọng pháp luật đồng thời có nhu cầu đối với việc sử dụng pháp luật, thì trong tâm thức của họ, pháp luật phải là cách luôn được ưu tiên lựa chọn khi giải quyết vấn đề phát sinh trong cuộc sống. Pháp luật, đương nhiên cũng phải hợp lòng dân, đáp ứng được những yêu cầu nhất định và phải làm sao để người dân có thể dễ dàng nắm bắt và vận dụng “mọi lúc mọi nơi” khi cần thiết.

Tuy nhiên, trong nhận thức truyền thống của xã hội Việt Nam, pháp luật chưa trở thành một cách giải quyết các tranh chấp được ưu tiên lựa chọn. Dân gian có câu “vô phúc đáo tụng đình” đã nói rõ quan niệm của người dân khi phải đối diện với pháp luật. Như vậy, với người Việt Nam, do tâm lý xã hội từ lâu việc lựa chọn các quy định pháp luật do Nhà nước ban hành để giải quyết vấn đề của mình vốn đã không được ưa chuộng. Xuất phát điểm đó càng khiến cho công việc đưa pháp luật đi vào thực tiễn đời sống thêm khó khăn, kể cả khi hệ thống pháp luật được xây dựng một cách nghiêm chỉnh nhất. Huống chi, trên thực tế việc xây dựng dựng, phổ biến, giải thích và áp dụng luật của chúng ta trong nhiều năm qua còn quá nhiều điều bất cập. Tình trạng nhiều luật đã được ban hành nhưng chưa thể thực thi vì thiếu văn bản dưới luật hướng dẫn là một thực tế tồn tại đáng quan ngại trong quản lý Nhà nước ở nước ta nhiều năm qua. Việc luật phải chờ đợi các nghị định, thông tư theo các chuyên gia không chỉ vi phạm các nguyên tắc Nhà nước pháp quyền nói chung do tạo ra những “khoảng trống pháp lý”, mà còn tạo nên một hệ thống văn bản thiếu minh bạch, không khoa học và phức tạp do phải dẫn chiếu từ văn bản nọ tới văn bản kia khi áp dụng. Đây cũng chính là một trong nhiều lý do khiến pháp luật “chần chừ” đi vào đời sống. Chưa kể trong một số trường hợp cá biệt công văn cũng được sử dụng trong hoạt động quản lý Nhà nước với giá trị như văn bản pháp quy. Cũng theo các chuyên gia, nguyên nhân của tình trạng luật phải... “trùm chăn” nằm chờ văn bản dưới luật trong thực tiễn lập pháp ở nước ta bắt nguồn từ hai lý do. Thứ nhất, do thói quen tư duy và phương thức quản lý thiên về hành chính tồn tại từ thời bao cấp. Theo đó, các cơ quan hành chính trên thực tế là nơi đưa ra sáng kiến lập pháp đồng thời xây dựng các quy phạm pháp luật theo ý chí chủ quan của mình và tất nhiên luôn theo hướng tạo thuận lợi nhất cho các hoạt động của mình. Việc phải ban hành văn bản ở nhiều cấp để đưa một sáng kiến lập pháp vào cuộc sống còn phản ánh sự hạn chế về năng lực của cơ quan hành pháp. Những vấn đề chưa trù liệu hết trong luật sẽ được “đẩy” xuống để giải quyết trong các văn bản dưới luật với tinh thần “sai đâu sửa đó”. Do vậy, ở các cơ quan công quyền của nước ta thường xảy ra hiện tượng mỗi nơi, mỗi người giải thích, vận dụng luật theo kiểu của mình, khiến người dân không biết đâu mà lần. Rõ ràng quy trình lập pháp như thế này hoàn toàn không phù hợp với những nguyên tắc cơ bản của Nhà nước pháp quyền mà chúng ta đang xây dựng. Cuối cùng, theo thời gian, việc lý giải và hướng dẫn thi hành không do một mà là nhiều cơ quan công quyền khác nhau thực hiện dẫn đến tình trạng một điều luật do bộ này hướng dẫn thực hiện không kết hợp được một cách hữu cơ với các điều luật liên quan đến nó nhưng do các bộ khác hướng dẫn thực hiện. Điều này cũng là một trong các nguyên nhân chính gây ra tình trạng “không đồng bộ của hệ thống pháp luật Việt Nam”. Nguyên nhân thứ hai thuộc về vai trò và chất lượng hoạt động lập pháp của Quốc hội. Theo dõi các phiên họp Quốc hội gần đây, mọi người dân đều vui mừng với những đổi thay theo hướng minh bạch, dân chủ tại các kỳ họp, đặc biệt trong các phiên chất vấn trực tiếp các thành viên Chính phủ. Quốc hội đã thực hiện khá tốt chức năng giám sát và góp phần nâng cao ý thức trách nhiệm của các thành viên Chính phủ. Mặc dù vậy, có thể thấy các ý kiến do các đại biểu Quốc hội nêu ra chủ yếu mang tính chất vấn, yêu cầu cung cấp thông tin. Hầu như chưa thấy đại biểu nào chủ động đưa ra một dự án luật liên quan tới quyền lợi của những nhóm cử tri mà mình đại diện. Có thể nói, tuy đã có rất nhiều cố gắng trong công tác xây dựng luật, nhưng Quốc hội trong thời gian qua vẫn còn khoảng trống trong việc thực thi vai trò cơ quan lập pháp với đầy đủ ý nghĩa của chức trách này. Theo các chuyên gia, hoạt động lập pháp phải bao gồm đầy đủ các nội dung như sau: đưa ra sáng kiến lập pháp; xây dựng văn bản dự luật và thông qua luật. Trên thực tế, Quốc hội ta nhiều năm qua thường chỉ tập trung vào nội dung thứ 3: thảo luận và thông qua các dự luật do các bộ ngành thuộc cơ quan hành pháp đệ trình. Tuy nhiên, việc đảm bảo cho Quốc hội có thể thực hiện đúng chức năng lập pháp của mình cần bắt đầu từ việc nâng cao năng lực cũng như tính chuyên trách của các đại biểu Quốc hội. Trong bối cảnh nước ta đang hội nhập với nền kinh tế toàn cầu, phải đương đầu với những thay đổi thường xuyên và nhanh chóng của thị trường quốc tế cần phải thấy rằng chậm thi hành các bộ luật, những điều luật được sửa đổi bổ sung hợp lòng dân, đáp ứng kịp thời đòi hỏi của thực tiễn chỉ vì phải chờ thông tư, nghị định hướng dẫn, không chỉ kéo dài thời gian làm người dân phải chịu thiệt thòi mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường đầu tư, đến sự ổn định xã hội. Quyết sách của Nhà nước, đặc biệt là những quyết sách liên quan đến an sinh xã hội, thuế, đầu tư nước ngoài, sẽ không thể phát huy tác dụng, thậm chí có thể mất tác dụng, nếu không đáp ứng kịp thời đòi hỏi của thực tiễn. Vì vậy, cương quyết từ bỏ “truyền thống chậm chạp” ban hành thông tư, nghị định hướng dẫn thi hành luật, xây dựng luật theo hướng hiệu lực trực tiếp rất nên được coi là mục tiêu cấp bách của công cuộc cải cách tư pháp, cải cách hành chính hiện nay. Hữu Nguyên