"Cháu có hai cái tai và một cái miệng - hãy sử dụng chúng theo đúng tỷ lệ đó" - lời khuyên của bà dành cho tôi nếu tôi muốn trở thành giáo viên tốt.

Vi sao lay vo giao vien la uoc mo cua moi chang trai Phan Lan? - Anh 1

Đất nước Phần Lan tuy nhỏ bé nhưng có nền giáo dục phát triển bậc nhất thế giới (ảnh: AFP)

Có nhiều yếu tố đóng góp cho danh tiếng hiện tại của hệ thống giáo dục của Phần Lan, chẳng hạn như trường phổ thông 9 năm (peruskoulu) cho tất cả học sinh, chương trình môn học hiện đại tập trung vào việc học và do giáo viên thiết kế, sự quan tâm có hệ thống dành cho học sinh có nhu cầu đặc biệt đa dạng, và tự chủ và lãnh đạo địa phương. Tuy nhiên, nghiên cứu và kinh nghiệm cho thấy một yếu tố là điều kiện cần thiết cho tất cả những yếu tố thành công này: đóng góp hằng ngày của những người giáo viên xuất sắc.

Lấy vợ giáo viên là ước mơ của mọi chàng trai Phần Lan?

… Trước khi giáo dục trường công chính quy bắt đầu phổ biến những năm 1860, việc dạy đọc và viết cho người dân là trách nhiệm của thầy tu và các dòng tôn giáo khác ở Phần Lan từ thế kỷ 17. Người dân học đọc viết sơ cấp tại các trường có định hướng tôn giáo dạy giáo lý Thiên Chúa giáo bằng cách vấn đáp vào các ngày Chủ Nhật và tại các trường lưu động ở các làng và những vùng xa xôi ở Phần Lan. Theo truyền thống, nam giới và phụ nữ muốn kết hôn hợp pháp ở nhà thờ phải biết đọc biết viết. Biết đọc biết viết do đó đánh dấu việc một cá nhân bước vào tuổi trưởng thành với các quyền và nghĩa vụ đi kèm.

Giáo viên dần dần đảm nhiệm những trách nhiệm này khi hệ thống trường học công Phần Lan bắt đầu mở rộng đầu thế kỷ 20. Chủ yếu là do vị thế xã hội cao, nên giáo viên được trọng vọng và cũng được tin tưởng vô điều kiện ở Phần Lan. Quả thật, người Phần Lan tiếp tục coi dạy học là một nghề cao quý, có uy tín—tương tự nghề y, luật hay kinh tế—chủ yếu lấy mục đích đạo đức làm đầu chứ không phải mối quan tâm đến vật chất, sự nghiệp hay phần thưởng.

Cho tới tận những năm 1960, thành tích giáo dục Phần Lan vẫn khá thấp… Ví dụ, năm 1952, khi Phần Lan tổ chức Olympic Mùa hè, cứ 10 người Phần Lan trưởng thành thì có 9 người mới chỉ hoàn thành từ 7 đến 9 năm giáo dục cơ bản. Bằng tốt nghiệp đại học được coi là một thành tích ngoại lệ thời đó ở Phần Lan... Trình độ giáo dục Phần Lan khi đó tương đương với Malaysia hay Peru, và bị bỏ xa đáng kể so với những người láng giềng Scandinavia như Đan Mạch, Na Uy và Thụy Điển. Trong những năm 1960, giáo viên tiểu học vẫn được đào tạo theo hình thức thảo luận nhóm (xê-mi-na) trong hai hoặc ba năm, không phải tại các cơ sở học thuật mà là các đợt đào tạo ngắn hạn, mang tính thực hành về nghề dạy. Một người tốt nghiệp khóa đào tạo giáo viên cuối những năm 1950, Martti Ahtisaari, từ một giáo viên tiểu học đã trở thành một nhà ngoại giao quốc tế, rồi Tổng thống Phần Lan (1994-2000) và giờ là người được trao giải Nobel Hòa bình và là người kiến tạo hòa bình toàn cầu được ca ngợi.

Ngày nay, khi đón mừng thành tích giáo dục của mình, Phần Lan công khai công nhận giá trị của giáo viên và hoàn toàn tin tưởng vào hiểu biết và quyết định nghề nghiệp của giáo viên liên quan đến giáo dục nhà trường. Nói một cách đơn giản, nếu không có những người giáo viên xuất sắc và hệ thống đào tạo giáo viên hiện đại thì Phần Lan không thể nào đạt được thành tích giáo dục quốc tế hiện tại.

Vi sao lay vo giao vien la uoc mo cua moi chang trai Phan Lan? - Anh 2

Giáo viên là nghề nghiệp cao quý nhất tại Phần Lan (ảnh: Shutterstock)

Hệ thống giáo dục Phần Lan khác biệt rõ rệt so với giáo dục công ở Mỹ, Canada hay Anh. Một số khác biệt liên quan chặt chẽ đến công việc của người giáo viên. Ví dụ, hệ thống giáo dục Phần Lan không áp dụng chế độ thanh tra trường học nghiêm ngặt và không sử dụng hình thức kiểm tra học sinh tiêu chuẩn hóa từ bên ngoài để thông tin cho công chúng biết về kết quả của trường hay hiệu quả của giáo viên. Giáo viên cũng có tự chủ nghề nghiệp để xây dựng kế hoạch làm việc và chương trình môn học dành riêng cho trường mình. Mọi giáo dục ở Phần Lan được chính phủ tài trợ, bao gồm cả đào tạo giáo viên trong các trường đại học nghiên cứu ở Phần Lan.

…Nghề dạy học gắn bó chặt chẽ với việc duy trì văn hóa quốc gia Phần Lan và xây dựng một xã hội mở và đa văn hóa. Quả thực, một trong những mục đích của giáo dục nhà trường chính quy là để truyền bá di sản văn hóa, giá trị và khát vọng từ thế hệ này sang thế hệ khác. Giáo viên, theo ý kiến cá nhân họ, là những nhân vật rất quan trọng tham gia xây dựng xã hội phúc lợi Phần Lan. Giống như ở các nước trên thế giới, giáo viên ở Phần Lan từ trước đến nay là những người truyền bá văn hóa vô cùng quan trọng.

Trong nhiều thế kỷ, Phần Lan đã đấu tranh cho bản sắc quốc gia, tiếng mẹ đẻ và các giá trị của riêng mình, đầu tiên trong sáu thế kỷ dưới sự đô hộ của vương quốc Thụy Điển; tiếp theo hơn một thế kỷ bị Đế chế Nga cai trị; và rồi một thế kỷ nữa là một quốc gia độc lập nằm kẹp giữa những nước bảo hộ trước đây và giờ là các cường quốc toàn cầu hóa. Không nghi ngờ gì lịch sử này đã để lại một dấu ấn sâu sắc đối với người Phần Lan và khát vọng phát triển cá nhân của họ thông qua giáo dục, đọc và tự cải thiện bản thân. Biết chữ là xương sống của văn hóa Phần Lan, và đọc giải trí đã trở thành một phần quan trọng trong gien di truyền văn hóa của mọi người Phần Lan.

Thế thì không có gì ngạc nhiên khi giáo viên và nghề dạy học được coi trọng ở Phần Lan. Truyền thông Phần Lan thường xuyên đưa tin về kết quả các cuộc thăm dò dư luận về những nghề được học sinh tốt nghiệp phổ thông trung học yêu thích. Ngạc nhiên là nghề giáo thường được coi là một trong những nghề được ngưỡng mộ nhất, trước bác sỹ, kiến trúc sư và luật sư, những nghề thường được cho là đáng mơ ước. Nghề dạy học phù hợp với các giá trị xã hội cốt lõi của người Phần Lan, trong đó có bình đẳng xã hội, quan tâm đến người khác và hạnh phúc, theo Điều tra Tuổi trẻ Quốc gia (2010). Dạy học cũng được coi là một nghề cao quý độc lập được công chúng tôn trọng và ca ngợi. Nghề này đặc biệt phổ biến trong phụ nữ trẻ—hơn 80% số người được nhận vào học các chương trình đào tạo giáo viên tiểu học là nữ (Ban Giáo dục Quốc gia, 2013).

Trong một cuộc thăm dò dư luận quốc gia, khoảng 1.300 người Phần Lan trưởng thành (từ 15 đến 74 tuổi) được hỏi liệu nghề nghiệp của vợ/chồng (hoặc đối tác) của họ có ảnh hưởng tới quyết định gắn bó vào một mối quan hệ với họ hay không (Kangasniemi, 2008). Những người được hỏi được yêu cầu chọn ra năm nghề trong danh sách 30 nghề mà họ muốn đối tác hoặc vợ/chồng làm. Các câu trả lời khá bất ngờ. Nam giới Phần Lan coi người làm giáo viên là bạn đời đáng khao khát nhất, xếp ngay trên y tá, bác sỹ và kiến trúc sư. Phụ nữ Phần Lan xếp bác sỹ và bác sỹ thú y trên giáo viên làm nghề nghiệp mong muốn của người chồng lý tưởng của họ. Trong toàn bộ mẫu điều tra, 35% xếp giáo viên trong top 5 những nghề yêu thích cho bạn đời lý tưởng của họ. Rõ ràng, chỉ có bác sỹ là được tìm kiếm nhiều hơn giáo viên trên thị trường hôn phối Phần Lan. Điều này minh chứng rõ ràng cho vị thế nghề nghiệp và xã hội cao mà nghề giáo đã đạt được ở Phần Lan—cả trong và ngoài trường học.

Giáo viên luôn phải là những người xuất sắc nhất

Do việc dạy học và việc trở thành giáo viên được yêu thích, chỉ những học sinh giỏi nhất và tâm huyết nhất của Phần Lan mới có thể biến những giấc mơ nghề nghiệp đó thành hiện thực. Mỗi mùa xuân, hàng nghìn học sinh tốt nghiệp phổ thông trung học Phần Lan, trong đó có nhiều bạn trẻ tài năng, sáng tạo và có động lực mạnh mẽ nhất, nộp đơn cho các khoa đào tạo giáo viên của tám trường đại học Phần Lan. Do đó, việc trở thành giáo viên tiểu học ở Phần Lan mang tính cạnh tranh cao. Thường là không đủ nếu thí sinh chỉ đơn giản hoàn thành trung học phổ thông và vượt qua kỳ thi tuyển sinh đại học nghiêm ngặt.

Vi sao lay vo giao vien la uoc mo cua moi chang trai Phan Lan? - Anh 3

Để trở thành giáo viên, các thí sinh ngành sư phạm phải trải qua cuộc tuyển chọn gắt gao (ảnh: Mundobrink)

Các thí sinh ngành sư phạm thành công còn phải có điểm số cao, tính cách tích cực, kỹ năng giao tiếp xuất sắc và cam kết làm giáo viên trong trường. Hằng năm, chỉ có một trong số 10 thí sinh được chấp nhận vào các chương trình thạc sỹ đào tạo giáo viên tiểu học của các trường đại học nghiên cứu Phần Lan. Ví dụ, năm 2013, 3.200 thí sinh nộp đơn đăng ký cho các chương trình đào tạo giáo viên khác nhau tại Đại học Helsinki. Chỉ 340 người trong số đó được chấp nhận. Tổng số thí sinh Phần Lan hằng năm trong tất cả năm loại chương trình đào tạo giáo viên ở tám trường đại học có khoa đào tạo giáo viên là khoảng 20.000 người.

Thí sinh ngành sư phạm tiểu học được chọn theo hai giai đoạn: Đầu tiên, thí sinh tham dự kỳ thi viết đầu tháng Năm áp dụng chung cho tất cả các trường đại học có chương trình đào tạo giáo viên. Kỳ thi này dựa trên một bộ các bài báo khoa học và nghề nghiệp được công bố và cung cấp cho học sinh cuối tháng Ba. Năm 2014, có tám bài báo phải đọc để thi và những bài báo này đề cập đến rất nhiều vấn đề như “Phát triển và đánh giá trí nhớ cơ bản thời thơ ấu”, “Công bằng và bình đẳng trong việc xếp chỗ học và lựa chọn giáo dục cơ bản” và “Thay đổi trong chính sách giáo dục và vị trí của nhà trường ở châu Âu”.

Dựa trên kết quả trong kỳ thi này, thí sinh được mời tham gia giai đoạn hai của quá trình tuyển chọn, mà mỗi trường đại học có cách làm khác nhau. Đáng chú ý là tại kỳ thi giai đoạn một này tất cả thí sinh có cùng một vạch xuất phát: điểm số ở trường không đóng vai trò gì trong việc vào được giai đoạn hai, chỉ điểm thi giai đoạn một có vai trò quyết định. Do đó những người cho rằng Phần Lan tuyển giáo viên từ top 10% học sinh xuất sắc nhất tốt nghiệp phổ thông trung học không hoàn toàn đúng. Tuy vậy, có thể an toàn mà nói rằng có sự kiểm soát chất lượng cẩn thận tại đầu vào nghề dạy học ở Phần Lan. Khó mà vào được ngành sư phạm nếu không có kiến thức vững, kỹ năng và cam kết đạo đức với nghề dạy.

Mục đích của giai đoạn hai là nhằm kiểm tra tính cách, kiến thức và sự phù hợp nói chung của thí sinh để trở thành giáo viên. Hầu hết các trường đại học yêu cầu thí sinh thể hiện cách sáng tạo ý tưởng, lên kế hoạch cho bài dạy và làm việc với người khác. Tất cả thí sinh sẽ tham gia các cuộc phỏng vấn cá nhân mà, trong số nhiều thứ khác, thường yêu cầu thí sinh giải thích lý do chọn nghề giáo. Trong vòng tuyển chọn thí sinh thành công cuối cùng, các trường đại học có thể xem xét kết quả kỳ thi giai đoạn một, điểm Kỳ thi Tuyển sinh, và bằng tốt nghiệp phổ thông trung học cũng như thành tích của thí sinh trong nghệ thuật, thể thao và bất cứ hoạt động nào khác mà các trường đại học thấy là phù hợp với nghề dạy học.

Như hai giai đoạn tuyển chọn này cho thấy, việc vào được ngành sư phạm ở Phần Lan có tính cạnh tranh cao. Thông thường, thí sinh ít nhất cần có một chút kinh nghiệm trong việc dạy hoặc làm việc với trẻ em để thành công. Năm 2014, tổng số đơn nộp vào các chương trình đào tạo giáo viên tiểu học là 8.400 hồ sơ, và các thí sinh cạnh tranh nhau cho 800 chỗ học ở tám trường đại học Phần Lan.

Có hai hiện tượng rõ ràng. Nghề dạy ở trường tiểu học Phần Lan đã trở nên ngày càng hấp dẫn. Đồng thời, tỷ lệ nam giáo viên tiểu học vẫn tương đối thấp. Tình trạng kinh tế Phần Lan được phản ánh trong số lượng thí sinh ngành sư phạm; khi triển vọng công ăn việc làm u ám hơn, người trẻ lao vào nghề dạy, như trong cuộc suy thoái kinh tế gần đây nhất ở Phần Lan bắt đầu năm 2008. Tuy số sinh viên Phần Lan không hoàn thành việc học và do đó không có bằng tốt nghiệp là nhỏ, song một con số tương đối lớn sinh viên nam tốt nghiệp những ngành học khác hoặc đi làm trước khi tốt nghiệp.

Phần Lan là một trong số ít quốc gia có thể chọn ra những người trẻ giỏi nhất và có động lực mạnh mẽ nhất cho các chương trình đào tạo giáo viên tiểu học năm này qua năm khác. Tình hình tốt tương tự cũng tồn tại ở Singapore, Hàn Quốc, Ai Len và một số nước khác. Điều này đã tạo ra một nền tảng đạo đức và nghề nghiệp vững chắc cho việc dạy ở trường tiểu học Phần Lan, nơi trẻ em Phần Lan dành sáu năm đầu tiên đến trường với các chuyên gia có năng lực, có kiến thức.

Điều gì khiến cho dạy học trở thành một nghề hàng đầu?

Nếu chúng ta sử dụng giáo dục Phần Lan như một điểm tham khảo, thì có ba điều kiện để thu hút những người trẻ giỏi nhất vào nghề dạy và giữ họ trong trường học. Thứ nhất, và quan trọng nhất, điều tối quan trọng là nơi làm việc của giáo viên cho phép giáo viên hoàn thành sứ mệnh đạo đức của mình. Ở Phần Lan, giống như ở nhiều nước khác, sự nghiệp dạy học là kết quả của khao khát tự thân muốn được làm việc với con người và giúp đỡ con người và xã hội thông qua việc dạy. Giáo viên ở Phần Lan có ý thức mạnh mẽ mình là những chuyên gia được kính trọng, tương tự như bác sỹ, kỹ sư hay luật sư. Giáo viên ở mọi cấp học kỳ vọng họ sẽ có toàn quyền tự chủ nghề nghiệp mà họ cần để thực hành điều họ đã được dạy: làm giáo án, dạy, chẩn đoán, tiến hành và đánh giá. Họ cũng trông đợi có đủ thời gian để hoàn thành tất cả những mục tiêu này, cả trong và ngoài phạm vi nghĩa vụ lớp học thông thường.

Vi sao lay vo giao vien la uoc mo cua moi chang trai Phan Lan? - Anh 4

Giáo viên Phần Lan được tự chủ trong nghề nghiệp và rất có uy tín (ảnh: MCT)

Ở Phần Lan, giáo viên dạy tương đối ít thời gian hơn so với đồng nghiệp ở nhiều nước khác. Ví dụ, trong các trường học ở Bắc Mỹ, giáo viên dành phần lớn thời gian làm việc hằng ngày ở trường cho việc dạy, nên họ còn rất ít thời gian cho các hoạt động nghề nghiệp khác. Khái niệm cộng đồng học tập nghề nghiệp (PLC) thường áp dụng cho cách giáo viên làm việc ở trường, thường là trong thời gian của riêng họ. Tuy nhiên, ở Phần Lan, Hàn Quốc và Nhật Bản, chẳng hạn, trường học được coi là những cộng đồng học tập nghề nghiệp do bản chất và sự cân bằng trong công việc hằng ngày của giáo viên.

Tôi đã nói chuyện với các giáo viên tiểu học Phần Lan trong giai đoạn đầu sự nghiệp của họ nhằm hiểu xem cái gì sẽ khiến họ bỏ nghề mà họ đã chọn. Điều thú vị là, gần như không ai lấy lương là lý do bỏ nghề dạy. Thay vào đó, nhiều người chỉ ra rằng nếu họ mất quyền tự chủ nghề nghiệp ở trường và trong lớp học, thì họ sẽ đặt câu hỏi với lựa chọn nghề nghiệp của mình. Ví dụ, nếu một thanh tra viên bên ngoài phải đánh giá chất lượng công việc của họ hay nếu một chính sách lương bổng dựa trên điểm số bị các đánh giá bên ngoài tác động được áp dụng thì nhiều người sẽ đổi nghề.

Giáo viên Phần Lan rất hoài nghi trong việc sử dụng các bài kiểm tra tiêu chuẩn hóa thường xuyên để xác định tiến bộ của học sinh ở trường. Nhiều giáo viên Phần Lan đã nói với tôi rằng nếu họ gặp phải áp lực từ bên ngoài liên quan đến kiểm tra tiêu chuẩn hóa và trách nhiệm giải trình có độ rủi ro cao, tương tự như những gì đồng nghiệp của họ ở Mỹ và Anh phải đối mặt, thì họ sẽ tìm việc khác. Tóm lại, giáo viên ở Phần Lan kỳ vọng họ sẽ được tự chủ trong nghề nghiệp, có uy tín, được tôn trọng và tin tưởng trong công việc. Hơn bất cứ thứ gì khác, điều kiện làm việc và môi trường nghề nghiệp đạo đức là những điều quan trọng khi người trẻ Phần Lan quyết định liệu họ sẽ theo đuổi nghề dạy hay tìm kiếm việc làm trong một lĩnh vực khác.

Thứ hai, ngành sư phạm giáo viên nên có tính cạnh tranh và đòi hỏi khắt khe đủ để thu hút học sinh tốt nghiệp phổ thông trung học trẻ tuổi tài năng. Ngành sư phạm thu hút nhiều học sinh tốt nghiệp phổ thông trung học của Phần Lan vì đây là một trong những ngành học của một chương trình cấp bằng thạc sỹ và do đó có đủ độ thách thức đối với những học sinh này. Ngoài ra, do chất lượng cao của sinh viên đầu vào ngành sư phạm giáo viên, nên chương trình học và yêu cầu đã trở nên rất khắt khe, tương đương với các chương trình cấp bằng khác của các trường đại học nghiên cứu Phần Lan. Người tốt nghiệp có bằng thạc sỹ có thể đăng ký học tiến sỹ mà không cần phải có thời gian làm việc thêm. Bằng đó cũng cho phép cá nhân đủ điều kiện làm việc trong cơ quan chính phủ hoặc chính quyền địa phương, dạy ở trường đại học, hay cạnh tranh việc làm với những sinh viên có bằng thạc sỹ khác trong khu vực tư nhân. Đôi khi ở Phần Lan người ta đặt câu hỏi liệu giáo viên tiểu học có nhất thiết cần bằng cấp học thuật và nghiên cứu tương đương thạc sỹ không. Tuy nhiên, kinh nghiệm Phần Lan cho thấy nếu yêu cầu bằng cấp để dạy tiểu học được hạ xuống, thì nhiều giáo viên tiềm năng sẽ theo học những lĩnh vực chuyên môn mang lại cho họ vị thế học thuật cao hơn và do đó mở ra nhiều cơ hội việc làm hơn cho họ sau này.

Thứ ba, lương không phải động cơ chính để trở thành giáo viên ở Phần Lan. Giáo viên có mức lương cao hơn một chút so với mức lương trung bình của quốc gia. Lương luật định hằng năm của giáo viên những lớp cuối của peruskoulu sau 15 năm kinh nghiệm (tính theo đô la Mỹ, quy đổi sử dụng sức mua tương đương) là khoảng 42.600 đô la Mỹ (OECD, 2014a), gần bằng với mức lương trung bình của giáo viên ở các nước OECD. Để so sánh, lương giáo viên hằng năm ở Mỹ là 47.000 đô la Mỹ và ở Hàn Quốc là 50.000 đô la Mỹ.

Bài viết được trích từ cuốn sách "Bài học Phần Lan 2.0", do Omega Books, đơn vị thành viên của Alpha Books, xuất bản tháng 11/2016