Với hàng triệu người Nepal, Thánh nữ là một biểu tượng tôn giáo đặc biệt. Đôi khi, chỉ một nét mặt của Thánh nữ cũng có thể khiến tất cả phải suy nghĩ. Bởi nó có thể là thông điệp của hòa bình, ấm no, hạnh phúc nhưng cũng có thể là điềm báo về tai ương khủng khiếp sắp giáng xuống các thần dân.

Là quốc gia nhỏ bé nằm ẩn mình trên dãy Hymalaya hùng vĩ, cuộc sống tại Nepal luôn chứa đựng nhiều bất ngờ cho những ai lần đầu đặt chân tới đây. Đặc biệt, sự giao thoa của 2 tôn giáo lớn đều đóng vai trò chủ đạo trong đời sống tâm linh của người dân nước này là Ấn Độ giáo và Phật giáo đã khiến văn hóa tín ngưỡng của vương quốc cổ này có những nét đặc trưng riêng biệt. Sự tồn tại của các Thánh nữ là minh chứng điển hình nhất.

Ven man bi an ve cac thanh song, Phat song vung Trung A - Anh 1

Thánh nữ được người dân Nepal xem là hiện thân của các vị thần

Nữ Thánh sống chỉ có ở Nepal

Với hàng triệu người Nepal, Thánh nữ là một biểu tượng tôn giáo đặc biệt. Đôi khi, chỉ một nét mặt của Thánh nữ cũng có thể khiến tất cả phải suy nghĩ. Bởi nó có thể là thông điệp của hòa bình, ấm no, hạnh phúc nhưng cũng có thể là điềm báo về tai ương khủng khiếp sắp giáng xuống các thần dân. Người Nepal coi Thánh nữ là hiện thân của các vị thần. Ngay cả khi còn tồn tại chế độ quân chủ, Thánh nữ đã có vị trí cao hơn cả đức vua.

Theo tiếng địa phương, Thánh nữ được gọi là “Kumari”. Đây được coi là biểu tượng chung duy nhất của Ấn Độ giáo, Phật giáo và tất cả các tôn giáo nhỏ khác ở Nepal. Người dân nước này, dù theo tôn giáo nào cũng đều coi Thánh nữ là hiện thân của vị thần chống lại những kẻ độc ác và đem lại sự may mắn và thịnh vượng. Thánh nữ đến từ thủ đô Kathmandu, nơi có các cơ quan đầu não của tất cả các tôn giáo tại Nepal, được người dân gọi là “Royal Kumari” – Thánh nữ hoàng gia – có quyền lực tối cao, bao trùm toàn bộ lãnh thổ vương quốc cổ này. Royal Kumari sẽ ngụ ở ngôi đền thiêng Kumari Ghar tại quảng trường Kathmadu Durbar. Trong khi đó, những Kuamri còn lại vẫn sống cùng với gia đình và tới trường như những bé gái bình thường. Họ chỉ xuất hiện với thân phận Thánh nữ vào những dịp lễ quan trọng của cộng đồng hoặc theo thỉnh cầu của các bô lão mỗi khi xảy ra một sự kiện đột xuất.

Kết quả các cuộc khảo cổ cho thấy truyền thống tôn sùng Kumari tại Nepal đã có từ hơn 2.300 năm trước, gắn liền với một truyền thuyết vẫn còn được lưu truyền đến ngày nay. Theo đó, vị vua nổi tiếng của vương quốc này trong thời cổ đại là Jayaprakash Malla thường xuyên được nữ thần Taleju hạ thế, bày cho cách trị vì đất nước, chống lại kẻ thù. Nhưng trong một lần say rượu, Jayaprakash Malla đã trót mạo phạm thân thể nữ thần Taleju xinh đẹp. Vậy là, bà nổi giận và toan trừng phạt cả vương quốc này. Vua Jayaprakash Malla hoảng sợ, quỳ trước sân điện hoàng cung suốt 3 ngày 3 đêm để cầu xin bà tha thứ, cho đến khi ngã gục. Cảm động trước sự thành tâm hối lỗi của ông, nữ thần Taleju rốt cuộc cũng xiêu lòng bỏ qua, thậm chí còn tiếp tục phù hộ cho nhà vua. Nhưng bà chọn cách an toàn hơn để giáng thế, đàm đạo với nhà vua, đó là mượn tạm thân xác của một trinh nữ.

Trong khi đó, người Nepal theo Kỳ Na giáo lại quan niệm: Thánh nữ là hiện thân của nữ thần Kali (vị thần tối cao của Kỳ Na giáo). Cộng đồng người Hồi giáo ít ỏi ở đây thì khẳng định: Thánh nữ là con gái của nhà tiên tri Momhamed. Chính vì vậy, họ đặc biệt sùng kính Thánh nữ. Nhờ không đại diện cho một vị thần tối cao của một tôn giáo nào cụ thể, Thánh nữ vô hình chung trở thành biểu tượng thống nhất cho tất cả các đức tin. Điều này cũng lý giải tại sao, ở một cuộc gia đa dân tộc, đa tín ngưỡng như Nepal, hàng triệu người lại dễ dàng chấp nhận biểu tượng tinh thần chung duy nhất.

Những tiêu chuẩn kỳ lạ

Quy trình tuyển chọn Thánh nữ được thực hiện hết sức ngặt nghèo. Những bé gái được lựa chọn bắt buộc phải xuất thân từ bộ tộc Newar Shakya. Cho đến ngày nay, không một ai (kể cả những người tham gia vào hội đồng tuyển chọn Thánh nữ) giải thích được thấu đáo về quy định bất di bất dịch này. Một số ý kiến lý giải rằng: Xa xưa, khi xã hội Nelap còn phân chia đẳng cấp thì bộ tộc Newar Shakya đã đứng ở tầng lớp quý tộc chí tôn, chỉ thua kém hoàng gia.

Các bé gái được lựa chọn ngay từ khi mới lên 3 tuổi. Theo giải thích của người Nepal, lựa chọn này giúp thỏa mãn một yêu cầu khắc nghiệt khác, đó là Thánh nữ bắt buộc phải còn trinh trắng. Các ứng viên được tuyển chọn không cần xinh đẹp song phải có dung mạo tươi tắn, sáng lạn, không được có nét u buồn hay hung dữ nào. Sức khỏe của các Thánh nữ tương lai cũng được kiểm tra một cách kỹ lưỡng. Hàm răng các ứng viên cũng phải mọc đều tăm tắp, dù chưa đủ số lượng. Những bé gái nào khi sinh ra đã từng bị đau ốm sẽ bị loại thẳng tay, thậm chí chỉ cần đã từng bị chảy máu (dẫu là đứt tay thôi) cũng không có cơ hội thành nữ Thánh sống.

Hội đồng tuyển chọn Thánh nữ còn lập ra cả một bộ ba-rem chấm điểm, chi tiết đến từng bộ phận cơ thể để làm căn cứ chọn người. Chỉ những ứng viên nào vượt qua “vòng thi” nguồn gốc xuất thân, thể hình và sức khỏe mới được đánh giá tiếp về tâm lý. Hội đồng tuyển chọn sẽ dùng đủ ngón nghề kiểm tra thần thái của các bé gái để xem các bé sẽ phản ứng ra sao, từ đó lựa chọn ra được ứng viên “sáng giá” nhất.

Tóm lại, tốt nhất là nên chọn một cô bé càng lì lợm càng tốt, không hề thể hiện bất cứ một cảm xúc gì, hay có một hành động, cử chỉ gì. Thế mới là thông điệp của sự an toàn, ấm no, hạnh phúc mà đấng thần linh muốn truyền đạt tới thần dân.

Thanh Tùng (Báo Gia đình & Xã hội)