Theo báo cáo của Ủy ban Giám sát, cho vay tín dụng VND và tín dụng trung, dài hạn chiếm tỷ trọng chính như tín dụng VND chiếm 91,2% tổng tín dụng, tín dụng trung và dài hạn chiếm 55,9% tổng tín dụng.

Uy ban Giam sat: Tang truong tin dung can nhanh hon trong quy 4 - Anh 1

Giao dịch tại VIB. (Nguồn: VIB)

Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia vừa công bố báo cáo về tình hình kinh tế 9 tháng qua, trong đó nhận định hệ thống tài chính nhìn chung ổn định, đảm bảo khả năng cung ứng vốn cho nền kinh tế. Tổng nguồn vốn cung ứng cho nền kinh tế đến 31/8 đạt 7.565 nghìn tỷ đồng, tăng 10,1% so với cuối năm 2015, tương đương 180% GDP.

Báo cáo nhấn mạnh, tín dụng ngân hàng tiếp tục là kênh cung ứng vốn chủ yếu, chiếm 65,3% tổng cung ứng vốn cho nền kinh tế, thị trường vốn (gồm cổ phiếu và trái phiếu) chiếm 34,7%.

Tính đến 31/8, tín dụng đạt 4.943 nghìn tỷ đồng, trong đó dư nợ cho vay đạt 4.560 nghìn tỷ đồng, trái phiếu doanh nghiệp đạt 382.000 tỷ đồng.

Tăng trưởng tín dụng đạt 10,2% so với cuối năm 2015, nhưng tăng trưởng tín dụng bình quân 8 tháng đạt 4,7% (cùng kỳ 2015 là 4,1%). Vòng quay vốn tín dụng cải thiện nhẹ, 8 tháng là 4,42 vòng (cùng kỳ năm 2015 là 4,21 vòng).

Các chuyên gia của Ủy ban Giám sát đề xuất, để đạt mục tiêu tăng trưởng cả năm 18-20%, tín dụng cần tăng nhanh hơn trong quý 4 này.

Cũng theo các chuyên gia của Ủy ban Giám sát, cho vay tín dụng VND và tín dụng trung, dài hạn chiếm tỷ trọng chính như tín dụng VND chiếm 91,2% tổng tín dụng, tín dụng trung và dài hạn chiếm 55,9% tổng tín dụng. Tuy nhiên, tín dụng trung và dài hạn tăng chậm lại, trong 8 tháng tăng 11,1% (trong khi đó cùng kỳ 2015 tăng 18,7%).

Tín dụng đầu tư và kinh doanh bất động sản tăng 5,3% so với cuối năm 2015, chiếm 8,5% tổng tín dụng (cuối năm 2015 là 8,9%). Trong khi đó, tín dụng tiêu dùng tăng 28,7% so với cuối năm 2015, chiếm 11,3% tổng tín dụng (năm 2015 là 9,7%). Tín dụng tiêu dùng tập trung chủ yếu vào nhu cầu sửa chữa nhà, mua nhà để ở (chiếm khoảng 49,9%), mua đồ dùng trang thiết bị (26%) và phương tiện đi lại (10,7%).

Báo cáo của Ủy ban Giám sát cho biết, tỷ trọng tín dụng theo ngành kinh tế ít thay đổi so với cuối năm 2015. Dư nợ đối với các hoạt động dịch vụ khác và ngành công nghiệp chiếm tỷ trọng tín dụng lớn nhất, lần lượt là 36,6% và 22,2% tổng tín dụng. Tiếp theo là ngành thương mại 17,8%, nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 10%.

Theo báo cáo từ các tổ chức tín dụng, tỷ lệ nợ xấu dưới 3%. Tuy nhiên nợ xấu phân bố không đồng đều, tập trung chủ yếu tại một số tổ chức tín dụng yếu kém (nợ xấu của 19 tổ chức tín dụng chiếm 55,1% tổng nợ xấu hệ thống). Lãi dự thu của hệ thống tổ chức tín dụng cao, tăng 17,2% so với cuối năm 2015, tập trung tại một số tổ chức tín dụng yếu kém (lãi dự thu của 9 tổ chức tín dụng chiếm 61,7% tổng lãi dự thu toàn hệ thống).

Các chuyên gia cho rằng, xử lý nợ xấu tại các tổ chức tín dụng chậm trong thời gian qua là do năng lực trích lập dự phòng rủi ro của tổ chức tín dụng hạn chế, việc phát mại tài sản bảo đảm gặp nhiều khó khăn pháp lý, quá trình tố tụng kéo dài.

Báo cáo cũng phân tích thêm, thanh khoản khu vực ngân hàng nhìn chung tiếp tục duy trì ổn định. Tính đến cuối tháng Tám, nguồn vốn huy động từ tổ chức kinh tế và dân cư đạt 5.834 nghìn tỷ đồng tăng 11,4% (cùng kỳ năm trước tăng 8%; ước tính đến cuối tháng Chín tăng trên 12%). Tỷ lệ tín dụng/huy động (LDR) bình quân là 84,7% (cuối năm 2015 là 85,7%).

Uy ban Giam sat: Tang truong tin dung can nhanh hon trong quy 4 - Anh 2

Ảnh minh họa. (Nguồn: Ủy ban Giám sát)

Mặt bằng lãi suất liên ngân hàng tiếp tục giảm ở tất cả các kỳ hạn so với cuối tháng Tám. Đặc biệt, lãi suất qua đêm đã giảm xuống mức thấp kỷ lục 0,36% vào ngày 16/9, thấp hơn rất nhiều so với mức 5,2%-5,6% thời điểm đầu năm. Nhờ đó, Kho bạc Nhà nước đã sớm hoàn thành kế hoạch huy động trái phiếu Chính phủ cả năm 2016. Tính đến 23/9/2016, tổng giá trị huy động trái phiếu Chính phủ đạt 100,13% kế hoạch (tương đương 250.320 tỷ đồng); kỳ hạn trái phiếu Chính phủ phát hành bình quân là 7,48 năm cao hơn mức 6,1 năm của năm 2015.

Trong khi đó, chi phí vốn của nền kinh tế duy trì ổn định. Diễn biến lãi suất huy động và cho vay trong 9 tháng qua cho thấy mặt bằng lãi suất huy động và cho vay tăng nhẹ chủ yếu do các nguyên nhân đón đầu quy định về tỷ lệ cho vay trung và dài hạn tại một số các ngân hàng thương mại cổ phần.

Vào đầu tháng Chín, một số ngân hàng trong khối thương mại cổ phần vẫn tiếp tục tăng lãi suất huy động kỳ hạn dài từ 0,3-05% để cạnh tranh thu hút khách hàng và đạt chỉ tiêu kinh doanh vào cuối quý. Trong khi đó, từ ngày 26/9, một số ngân hàng một số ngân hàng thương mại lớn đã giảm lãi suất huy động từ 0,3-0,5 điểm % đối với tiền gửi ngắn hạn và một số ngân hàng nhà nước cũng đã giảm lãi suất cho vay đối với đối tượng ưu tiên cho đến cuối năm 2016.

"Thông thường, vào quý cuối năm, các ngân hàng thường đẩy mạnh tín dụng để đạt chỉ tiêu cả năm. Đây là một tín hiệu tích cực của việc giảm lãi suất cho vay vào mùa cao điểm tín dụng cuối năm," các chuyên gia phân tích.

Đối với thị trường ngoại hối, báo cáo cũng cho biết trong 9 tháng qua thị trường này tương đối ổn định. Tỷ giá VND/USD tại các ngân hàng thương mại bám sát với cận trên của tỷ giá trung tâm của Ngân hàng Nhà nước, dao động quanh mức 22.220-22.500 đồng/USD. Tỷ giá thị trường tự do cũng không có nhiều biến động mạnh, bám sát với diễn biến của tỷ giá chính thức. Tính đến 23/9, CDS (hoán vị rủi ro tín dụng) và NDF (hợp đồng hối đoái kỳ hạn) đều điều chỉnh giảm so với đầu năm, củng cố niềm tin vào tiền VND.

Tuy nhiên, các chuyên gia của Ủy ban Giám sát nhấn mạnh, trong những tháng còn lại của năm 2016, vấn đề tỷ giá cần lưu ý: Nhiều khả năng FED sẽ tăng lãi suất một lần trong năm nay; nhiều nền kinh tế lớn trên thế giới tiếp tục duy trì các biện pháp nới lỏng, đẩy mạnh cung tiền./.