Các nhà máy thủy điện đóng vai trò lớn trong việc bảo đảm nhu cầu điện năng cho phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời thực hiện nhiệm vụ cắt, chống lũ hay cung cấp nước cho hạ du trong mùa mưa bão và mùa kiệt. Mỗi nhà máy đều phải tuân thủ nghiêm ngặt quy trình vận hành để bảo đảm hạn chế tối đa tác động tiêu cực đối với hạ du. Thế nhưng, trước mỗi quyết định nhiều khi mang tính sinh tử cho cả một vùng hạ du rộng lớn, thì ngoài tuân thủ, còn cần tới sự ứng xử minh bạch, tỉnh táo và cái tình từ các chủ hồ.

Trông trời, trông đất, trông… “ông thủy điện”

Thông thường, đối với các công trình thủy điện mới đi vào vận hành, chính quyền và người dân sở tại đều chưa có kiến thức về việc sống dưới “túi nước” của hồ thủy điện là như thế nào? Những tai họa gì có thể xảy ra khi nhà máy xả lũ bất thường với lưu lượng lớn? Với họ, xả bao nhiêu mét khối hầu như chỉ là sự mường tượng mơ hồ của những con số. Đã đành là đúng quy trình, nhưng người dân có hiểu gì về cái quy trình ấy? Theo kinh nghiệm truyền đời, họ chỉ quen với những dự báo từ các câu ca dao ngắn gọn để sống, sản xuất nông nghiệp và chống lại thiên tai.

Đối với mỗi một quốc gia, phát triển điện năng luôn phải đi trước để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Thủy điện được tính đến như một giải pháp phát triển nguồn phù hợp với điều kiện tự nhiên và trình độ phát triển của Việt Nam. Những nhà máy thủy điện mọc lên nhiều hơn, cuộc sống của người dân sở tại cũng thay đổi không ít. Con số di dân tái định cư tăng theo quy mô của nhà máy, và đa phần những người sống dưới hạ du phải chấp nhận một cuộc sống mới, không chỉ trông trời, trông đất, trông mây, mà còn trông cả “ông thủy điện” nữa.

Ung xu voi ha du nha may thuy dien - Anh 1

Người dân phía hạ du sau đập Đơn Dương khẩn trương thu hoạch rau, hoa màu sau khi nhận được thông báo xả nước của DHD. Ảnh :Ngọc Hà

Còn nhớ, trưa 29-9-2009, khi gió bão gầm rít trên đầu, thông tin báo người chết, nhà đổ, lời cầu cứu giúp đỡ từ các địa phương tới tấp gọi về ban chỉ huy phòng chống lụt bão, thì cũng là lúc lãnh đạo UBND tỉnh Quảng Nam nhận được báo cáo xin được xả nước lòng hồ thủy điện A Vương. Lãnh đạo tỉnh bị đặt vào tình thế khó xử: Không cho xả lũ thì nguy hiểm đến an toàn của hồ chứa, còn cho xả lũ thì nguy hiểm đến cuộc sống của hàng trăm nghìn hộ dân vùng hạ lưu. Sau khi hội ý chớp nhoáng, tất cả lãnh đạo tỉnh đều thống nhất không đồng ý cho xả lũ. Nhưng chỉ sau ít tiếng đồng hồ, không còn sự chọn lựa nào khác, UBND tỉnh Quảng Nam phải “gật” cho xả lũ. Ngay sau khi A Vương xả nước, lũ bắt đầu lên vùn vụt, mỗi giờ nước lên hơn 10cm. Đỉnh lũ lúc 3 giờ sáng ngày 30-9, nghĩa là sau 11 giờ xả lũ của hồ chứa Nhà máy thủy điện A Vương, đã vượt xa đỉnh lũ lịch sử của các năm gần 2 m nước. Vùng hạ lưu ngập chìm trong lũ khi bão chưa tan. Lần xả lũ này đã trở thành bài học xương máu cho A Vương.

Rồi mới đây, khi các bản tin dự báo của Đài KTTV Khu vực Tây Nguyên cho biết, lưu lượng về hồ từ ngày 31-10 đến 2-11-2016 chỉ lớn nhất là 40m3/s, thì trên thực tế mưa lại rất lớn, lưu lượng nước về hồ tăng đột biến. Vào 23 giờ ngày 1-11, mực nước hồ An Khê tăng lên 492.03 m với lưu lượng về hồ 282,63m3/s. Công ty Thủy điện An Khê-Ka Nak đã ban hành các thông báo vận hành xả nước hồ An Khê với lưu lượng xả 200m3/s. Thông báo được gửi đến Ban Chỉ huy phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn (PCTT&TKCN) tỉnh Gia Lai mà không gửi trực tiếp đến Chủ tịch tỉnh cũng là người đứng đầu của ban này. Do sự phối hợp không tốt với địa phương để bảo vệ an toàn cho hạ du, ngay sau đó, lãnh đạo Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) và Công ty Thủy điện An Khê-Ka Nak đã xin lỗi lãnh đạo tỉnh Gia Lai và rút kinh nghiệm trong nội bộ.

Tạo sự cân bằng mới cho người dân

Nhìn lại quãng thời gian từ ngày 5 đến 7-11, tám hồ chứa thủy điện của các đơn vị thuộc EVN đều xả điều tiết khiến cho các tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa, Đác Lắc có nhiều khu vực bị ngập sâu. Tuy có thiệt hại về mùa màng, nhưng không có thiệt hại về người vì công tác di dân đã được thực hiện kịp thời. Bài học cho thấy quá trình vận hành điều tiết hồ chứa thủy điện đòi hỏi sự hợp tác chặt chẽ của các công ty thủy điện với chính quyền địa phương, phải vừa tuân thủ quy định của Quy trình vận hành liên hồ chứa vừa xả điều tiết theo chỉ đạo của các Ban Chỉ huy PCTT&TKCN địa phương. Mối liên hệ này phải được bảo đảm khi có diễn biến bất thường về thời tiết, nhưng cũng cần được chú trọng ngay cả khi trời yên thuận.

Trở lại với Quảng Nam, sau bài học xương máu của năm 2009, giờ đây Công ty thủy điện A Vương trở thành điểm sáng trong việc chủ động phòng lũ cho dân vùng hạ du. Mùa mưa bão, mọi thông tin được cập nhật hàng giờ đến Chủ tịch UBND tỉnh. Và để tăng cường tính công khai minh bạch trong vận hành hồ chứa, công ty còn mời đại diện các tổ chức chính trị xã hội của các địa phương vùng hạ du tham gia tổ công tác giám sát việc vận hành hồ chứa. Việc tuyên truyền đến người dân được thực hiện thông qua các chương trình truyền thông cộng đồng tập trung vào vấn đề biến đổi khí hậu; Quy trình vận hành liên hồ chứa trên khu vực sông Vu Gia - Thu Bồn trong mùa lũ; Quy chế phối hợp giữa chính quyền và công ty trong công tác vận hành hồ chứa và phòng, chống lụt bão… Cán bộ chủ chốt các cấp, các tổ chức chính trị xã hội, hiệu trưởng các trường từ mầm non đến phổ thông trung học… tại 18/18 xã, thị trấn trong huyện tham gia chương trình này.

Một câu chuyện thực tế sinh động nữa là ở Công ty thủy điện Đa Nhim - Hàm Thuận - Đa Mi (DHD), nơi mà các cán bộ, nhân viên luôn được quán triệt về cách ứng xử với người dân hạ du trên tinh thần đồng lòng hỗ trợ mỗi khi mùa lũ về. Vậy nên, người dân đã “sống” với đập Đơn Dương hơn 50 năm dần quen với tập quán không canh tác ở những vùng có nguy cơ ngập lớn. Những khu đất cao hơn được tận dụng trồng cây ngắn ngày nên khi xả nước ít bị thiệt hại. Giờ đây, chỉ cần thông báo lưu lượng xả nước là người dân hiểu được mực nước ngập đến đâu để liệu bề bố trí cuộc sống, sản xuất.

Một công trình thủy điện được xây dựng đồng nghĩa dòng chảy tự nhiên của một con sông thay đổi, hệ sinh thái trong lưu vực con sông đó cũng bị ảnh hưởng…Những người dân vùng hạ lưu cũng buộc phải thay đổi tập quán. Có thể mất một thời gian khá lâu hệ sinh thái mới tìm được sự cân bằng mới và con người cũng vậy, họ sẽ phải làm quen với tập quán mới, lâu hay nhanh còn phụ thuộc vào sự quan tâm của chính quyền địa phương và chủ hồ. Thực tế cho thấy, ở những địa phương nào thực hiện tốt quy chế phối hợp giữa Ban Chỉ huy PCLB&TKCN tỉnh, địa phương với các công ty, nhà máy thủy điện thì ở hạ du nơi đó ít xảy ra thiệt hại khi các hồ thủy điện xả lũ.