Phát triển bê tông bền vững cho hiện tại và tương lai

Đây là một trong những nội dung được trao đổi tại Hội nghị bê tông châu Á lần thứ 7 (ACF 2016) do Liên đoàn Bê tông châu Á (ACF) phối hợp với Hội Bê tông Việt Nam tổ chức. Hội nghị diễn ra từ ngày 30/10 – 02/11/2016 tại Hà Nội.

Ung dung KHCN phat trien be tong ben vung cho cac cong trinh - Anh 1

Hội nghị Bê tông châu Á lần thứ 7 có sự tham gia của nhiều chuyên gia trong nước và quốc tế.

Cần phát triển vật liệu bê tông bền vững

Theo đánh giá của các tổ chức, chuyên gia về vật liệu xây dựng (VLXD), Hội nghị bê tông châu Á lần thứ 7 với chủ đề “Phát triển bê tông bền vững cho hiện tại và tương lai” là Hội nghị quốc tế có uy tín trên thế giới, tập trung nhiều nhà khoa học, chuyên gia, doanh nghiệp (DN), nhà quản lý, nhà làm chính sách về lĩnh vực xây dựng và VLXD, đặc biệt là xi măng và bê tông.

Việc phát triển vật liệu bê tông bền vững cho hiện tại và tương lai chính là giải pháp hữu hiệu để tăng hiệu quả sử dụng của loại VLXD phổ biến nhất này, đồng thời giảm mặt trái và tác động xấu đến môi trường.

Phát biểu tại Hội nghị, Thứ trưởng Bộ Xây dựng Lê Quang Hùng, Chủ tịch Hội Bê tông Việt Nam cho biết: Bê tông đã và đang là loại vật liệu xây dựng được sử dụng phổ biến nhất trên thế giới. Uớc tính hàng năm có khoảng 35 tỷ tấn bê tông được sản xuất trên toàn cầu, sản lượng bê tông tiếp tục có xu hướng tăng lên trong những năm sắp tới. Bê tông thường có khối lượng thành phần bao gồm 12% xi măng, 80% cốt liệu cát đá và 8% nước. Điều này có nghĩa là khoảng 4,2 tỷ tấn xi măng, 28 tỷ tấn cát đá và 2,8 tỷ tấn nước được sử dụng hàng năm để chế tạo bê tông.

Trên thực tế, những con số trên thế giới về sản xuất xi măng trong 5 năm gần đây phản ánh xu hướng sản xuất bê tông ngày càng tăng. Trong năm 2010, thế giới sản xuất 3.300 triệu tấn xi măng. Tiếp đó, tiêu thụ trên toàn cầu đã tăng lên 3.585 triệu tấn vào năm 2011, và 3.736 triệu tấn vào năm 2012. Trong năm 2013 và 2014, tiêu thụ toàn cầu tiếp tục tăng lên đến 4.000 triệu tấn vào năm 2013 và sau đó là 4.300 triệu tấn trong năm 2014. Các nước châu Á dường như đóng góp một lượng lớn sản xuất xi măng, trong đó có khoảng 70 triệu tấn mỗi năm tại Việt Nam. Do đó, nhu cầu của các kết cấu bê tông bền vững cho hiện tại và tương lai là thực sự cần thiết cho sự phát triển của nền kinh tế toàn cầu và xã hội.

Thứ trưởng Lê Quang Hùng nhấn mạnh: Hội nghị quốc tế ACF 2016 là diễn đàn quan trọng để các nhà chuyên môn, các đại diện của các cơ quan Chính phủ, các nhà lập pháp, các nhà lãnh đạo, nhà đầu tư, các nhà thầu xây dựng và các tổ chức nghề nghiệp khác chia sẻ các kết quả nghiên cứu và phát triển, các sáng tạo về công nghệ sản xuất và ứng dụng bê tông theo hướng bền vững và các chính sách, quy định liên quan.

Chú trọng ứng dụng KHCN trong phát triển bê tông

Theo GS. Han Manyop, Chủ tịch Liên đoàn Bê tông châu Á, bê tông đang là VLXD được sử dụng phổ biến nhất trên thế giới. Vấn đề đặt ra là thành phần và kết cầu bê tông cần phải được nâng cao tính bền vững để ngày càng đáp ứng yêu cầu của sự phát triển kinh tế- xã hội toàn cầu cho hiện tại và tương lai.

Ung dung KHCN phat trien be tong ben vung cho cac cong trinh - Anh 2

GS. Han Manyop, Chủ tịch Liên đoàn Bê tông châu Á phát biểu tại Hội nghị.

Trao đổi dưới góc độ DN về ứng dụng công nghệ trong sản xuất bê tông, ông Phan Khắc Long, Tổng Giám đốc Cty CP Đầu tư Phan Vũ cho rằng: Các DN Việt Nam hiện nay đang đứng trước thách thức, đó là giải quyết bài toán công nghệ và bài toán về năng suất, phải bảo đảm có thể phát triển được ngang tầm với thế giới. Hiện giờ, cấp bách nhất là việc ứng dụng khoa học công nghệ (KHCN) trong phát triển bê tông, đặc biệt phải phát triển bê tông theo hướng xanh và bền vững.

Đồng tình với quan điểm trên, ông Lương Đức Long, Viện trưởng Viện VLXD (Bộ Xây dựng) khẳng định: Đến nay, kết cấu bê tông vẫn là một trong những kết cấu chủ yếu trong xây dựng nói chung. Để đáp ứng các sản phẩm có tính năng cao, có tính bền vững và hướng tới phát triển vật liệu xanh thì phát triển bê tông cần phải nâng cao chất lượng, tính năng của bê tông, ví dụ như nâng cao tính chịu lực, khả năng dẻo dai, nâng cao độ bền vững trong mọi môi trường sử dụng. Bên cạnh đó, một vấn đề không thể thiếu được đó là sử dụng các vật liệu tái chế (bê tông cốt liệu, chất kết dính và các khoáng mịn sử dụng trong bê tông). Việc ứng dụng KHCN mới vào sản xuất bê tông hiện nay sẽ giúp giảm giá thành, đặc biệt là giảm sự ô nhiễm môi trường.

Một yếu tố rất quan trọng mà trong Hội nghị ACF 2016 này đề cập đến chính là thiết kế cấu kiện bê tông. Theo ông Long, ngoài việc có bê tông tốt, thì việc lựa chọn thiết kế bê tông như thế nào để đảm bảo tính kỹ thuật, mỹ thuật, bền vững cũng là một yếu tố. Cho nên, đối với các nhà sản xuất bê tông hiện nay, nhất là sản xuất bê tông cấu kiện, cần phải đặc biệt quan tâm đến việc thiết kế cấu kiện cũng như kết cấu của bê tông.

Ông Lê Trung Thành, Vụ trưởng Vụ KHCN (Bộ Xây dựng) cũng cho biết: Trong những năm vừa qua, tốc độ xây dựng, tốc độ đô thị hóa diễn ra rất nhanh và sản lượng xi măng là nguyên liệu chính trong bê tông thì năm 2015 hơn 70 triệu tấn xi măng sản xuất ở Việt Nam. Khi sản xuất xi măng thì chúng ta sử dụng các nguyên liệu chính ở đây là đá vôi, đất sét… trong quá trình nung thì khí thải nhà kính, đặc biệt là khí CO2 thoát ra, cho nên việc sản xuất xi măng và bê tông nhiều có các tác động mặt trái tới vấn đề môi trường. Trong những văn bản cao nhất của Việt Nam, chúng ta đều nhấn mạnh việc phát triển xây dựng trong đó có VLXD phải đảm bảo việc hài hòa giữa lợi ích kinh tế, lợi ích xã hội và vấn đề về môi trường.

Hiện nay, đối với việc tiếp cận công nghệ bê tông, về giải pháp tổng thể chúng ta tập trung hoàn thiện thể chế về mặt quản lý VLXD như thế nào, đồng thời các giải pháp về mặt kỹ thuật, tiêu chuẩn, quy chuẩn phải hoàn thiện…

Tuy nhiên, theo ông Trần Thắng, Trưởng phòng Công tác sản xuất, Cty CP Đầu tư và Xây dựng Xuân Mai cho biết: Hiện tại, Nhà nước rất khuyến khích việc ứng dụng KHCN trong việc sản xuất đối với DN, nhưng khi DN ứng dụng KHCN này vào dây chuyền thì gặp khó khăn ở việc đưa sản phẩm mới vào thị trường, xã hội chấp nhận sản phẩm mới khó khăn hơn. Vì vậy, Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ DN về thuế và thủ tục dễ dàng hơn để DN nhanh chóng đưa sản phẩm vào thị trường và quảng bá sản phẩm đến người tiêu dùng…

Linh Anh