Đối với xe cá nhân dưới 9 chỗ ngồi, hiện tỷ lệ nội địa hóa mới chỉ đạt khoảng 7-10%, trong khi mục tiêu đề ra là 40% vào năm 2005, 60% vào năm 2010, theo báo cáo của Bộ Công Thương được đăng tải trên trang web của bộ.

Ty le noi dia hoa o to ca nhan chi dat 7-10% - Anh 1

Tỷ lệ nội địa hóa ô tô cá nhân sản xuất trong nước còn rất thấp - Ảnh minh họa: Hùng Lê

Đáng chú ý theo Bộ Công Thương, hai doanh nghiệp có thị phần ô tô cá nhân lớn nhất là Thaco đạt tỷ lệ nội địa hóa 15-18%, Toyota Việt Nam đạt 37% đối với riêng dòng xe Innova.

Theo báo cáo của Bộ Công Thương, ngành công nghiệp hỗ trợ công nghiệp ô tô đã hình thành, nhưng mới chỉ sản xuất được một số ít chủng loại phụ tùng đơn giản, có hàm lượng công nghệ thấp như gương, kính, ghế ngồi, bộ dây điện, ắc quy, săm-lốp, sản phẩm nhựa... Chỉ một số ít doanh nghiệp đầu tư dây chuyền dập thân, vỏ xe.

Bộ Công Thương cũng thừa nhận chưa tạo được sự hợp tác, liên kết và chuyên môn hóa giữa các doanh nghiệp trong sản xuất, lắp ráp ô tô và sản xuất phụ tùng linh kiện; chưa hình thành được hệ thống các nhà cung cấp nguyên vật liệu và sản xuất linh kiện quy mô lớn.

Trả lời chất vấn của các đại biểu Quốc hội liên quan đến chiến lược phát triển ngành ô tô vào đầu giờ chiều nay (15-11), Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh cũng cho biết Việt Nam đã có mục tiêu chiến lược phát triển ngành này. Tuy nhiên, vừa qua chúng ta chưa đạt được mục tiêu đề ra, chưa tham gia vào chuỗi giá trị thế giới và tăng tỷ lệ nội địa hóa.

"Bộ đã xem xét, làm rõ các nguyên nhân cả về dung lượng thị trường, thực thi chính sách, phát triển công nghiệp phụ trợ, chuyển giao công nghệ...", người đứng đầu của Bộ Công Thương nói.

Lý giải về tỷ lệ nội địa hóa thấp đối với dòng xe dưới 9 chỗ ngồi, theo Bộ Công Thương, nguyên nhân là do Việt Nam đi sau trong khu vực nếu so với các nước như Thái Lan, Indonesia, Malaysia. Chưa kể, trước khi đầu tư dự án lắp ráp tại Việt Nam, các tập đoàn ô tô lớn đều đã đầu tư các dự án sản xuất ô tô có quy mô lớn trong khu vực. Công suất các dự án sản xuất ô tô con thường được tính toán cho thị trường khu vực, chứ không tính riêng cho quốc gia đặt nhà máy sản xuất. Và thị trường xe con có sự cạnh tranh quyết liệt giữa các tập đoàn toàn cầu.

Đối với chủng loại ô tô tải và xe khách, tỷ lệ nội địa hóa gần đạt mục tiêu đề ra, nhờ các mẫu xe này chủ yếu phục vụ sản xuất, kinh doanh, ít có sự thay đổi về mẫu mã, có thời gian sử dụng dài, kích thước lớn nên không có lợi thế khi nhập khẩu. Vì vậy các dòng xe tải và xe khách sản xuất trong nước vẫn có cơ hội phát triển.

Về các hạn chế của lĩnh vực ngành công nghiệp hỗ trợ, theo Bộ Công Thương, là do dung lượng thị trường nội địa nhỏ, chỉ ở mức 200.000-300.000 xe/năm với nhiều mẫu mã, số lượng doanh nghiệp sản xuất - lắp ráp lớn (56 doanh nghiệp), nên thị phần của từng thương hiệu lại càng bị phân nhỏ.

Hơn nữa, các nguyên vật liệu cơ bản như thép chế tạo, cao su, nhựa và chất dẻo phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu. Tất cả các điều đó làm cho doanh nghiệp đầu tư sản xuất phụ tùng, linh kiện ô tô ít có lợi thế cạnh tranh do giá thành sản xuất cao.

Ngoài ra, trình độ của các doanh nghiệp Việt Nam còn nhiều hạn chế. Các doanh nghiệp lắp ráp chưa quan tâm đến công nghiệp hỗ trợ, chưa tạo điều kiện để các doanh nghiệp trong nước tham gia vào chuỗi cung ứng sản xuất.

Trên cơ sở xác định nguyên nhân như trên, Bộ Công Thương đề ra các giải pháp khắc phục, theo hướng xây dựng các chính sách ưu tiên, hỗ trợ về thuế, phát triển hạ tầng, khuyến khích chuyển giao công nghệ... để phát triển công nghiệp ô tô Việt Nam đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và phát triển kinh tế đất nước.

Theo Bộ Công Thương, tính đến cuối năm 2015, ngành sản xuất ô tô có trên 400 doanh nghiệp, nhưng đa số các doanh nghiệp đều có quy mô vừa và nhỏ. Tổng công suất lắp ráp thiết kế khoảng 460.000 xe/năm, trong đó khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm khoảng 47%, doanh nghiệp trong nước khoảng 53%. Việc lắp ráp được tiến hành ở hầu hết các chủng loại xe con (công suất khoảng 200.000 xe/năm), xe tải và xe khách (công suất khoảng 215.000 xe/năm).