(TBKTSG) - Từ trước đến nay, nông nghiệp thường đồng nghĩa với nghèo nàn, lạc hậu. Vì thế, trong đường lối và chiến lược phát triển, Chính phủ luôn xem trọng mục tiêu công nghiệp hóa hơn. Nhưng trong tương lai, có thể nông nghiệp trở thành nhân tố mang lại sự sung túc của cả nền kinh tế.

Tấn Đức Ảnh: Lê Hoàng Vũ. Giá lương thực trên thị trường thế giới vừa xác lập kỷ lục mới vào tháng 2-2011. Đây là mức cao nhất kể từ khi Tổ chức Lương nông Liên hiệp quốc (FAO) bắt đầu ghi nhận giá cả mặt hàng này kể từ năm 1990, nhưng chắc chắn đó vẫn chưa phải là kỷ lục sau cùng. Trong khi đó, ở Việt Nam, giá một loạt những mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực như gạo, cà phê, hạt điều, tiêu...cũng đang tăng mạnh, góp phần đưa kim ngạch xuất khẩu nhóm sản phẩm này trong hai tháng đầu năm tăng gần 51% so với cùng kỳ năm ngoái, đạt tổng trị giá 3,6 tỉ đô la Mỹ. Thành quả trên của ngành nông nghiệp có ý nghĩa không nhỏ đối với nền kinh tế Việt Nam trong thời điểm khó khăn hiện nay. Nông sản bán được giá giúp cho nông dân, lực lượng chiếm hơn hai phần ba dân số Việt Nam, có thêm điều kiện để chống chọi với những tác động tiêu cực của việc tăng giá những sản phẩm và dịch vụ thiết yếu, tạo nền tảng ổn định về xã hội. Ngoài ra, thành quả của lĩnh vực nông nghiệp còn là nguồn trợ lực quan trọng cho cuộc chiến chống lạm phát, giảm nhập siêu nhằm ổn định kinh tế vĩ mô của Chính phủ. Trong hơn một thập niên qua, nền kinh tế Việt Nam đã liên tiếp trải qua những giai đoạn khó khăn. Đầu tiên là tác động từ cuộc khủng hoảng tài chính ở khu vực châu Á, rồi đến khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Còn ở trong nước, những bất ổn kinh tế vĩ mô trở thành mối đe dọa thường trực. Điều đáng quan tâm là giữa lúc các ngành công nghiệp và dịch vụ bị ảnh hưởng nặng nề, thì nông nghiệp vẫn giữ được nhịp độ tăng trưởng cao và ổn định. Sự vững vàng của ngành nông nghiệp, ngay cả trong những giai đoạn khó khăn nhất của nền kinh tế, cho thấy tầm quan trọng của lĩnh vực này và đó có thể là chìa khóa để kinh tế Việt Nam có thể tăng trưởng bền vững, có sức đề kháng cao trước những tác động tiêu cực từ bên ngoài. Theo tính toán của FAO, đến năm 2050, sản lượng lương thực của toàn thế giới phải tăng ít nhất 70% so với hiện nay mới đủ để nuôi sống dân số lên đến 12,5 tỉ người. Đây là mục tiêu khó. Khoa học và công nghệ có thể làm tăng sản lượng cây trồng, nhưng khó có thể bù đắp được sự mất mát do diện tích canh tác bị sụt giảm để nhường chỗ cho đô thị hay do bị sa mạc hóa, bị biển lấn... Trở lại Việt Nam. Hiện nay diễn biến giá cả thị trường thế giới thuận lợi đang mang lại hy vọng một năm thắng lợi cho ngành nông nghiệp. Tuy nhiên, ngành nông nghiệp cũng đang đối mặt với nhiều hiểm họa. Đó là tình trạng hạn hán có thể sẽ rất nghiêm trọng trong những tháng tới; là sự xâm nhập mặn ngày càng sâu vào nội địa, đe dọa hàng trăm ngàn héc ta đất trồng lúa ở ĐBSCL; là khả năng bị mất trắng mùa màng do bão, lũ và nguy hiểm nhất là tác động của biến đổi khí hậu. Vì vậy, vấn đề đặt ra hiện nay là để bảo đảm đủ nhu cầu trong nước và nâng cao vị thế của một nước xuất khẩu lương thực trong tương lai, Chính phủ cần có chiến lược đầu tư tương xứng cho lĩnh vực nông nghiệp. Trong đó, cần cấp bách đầu tư để giải quyết hoặc chí ít là giảm nhẹ ảnh hưởng do hạn hán và xâm nhập mặn, nghĩa là cần đầu tư mạnh hơn cho thủy lợi. Cùng với thủy lợi, việc nâng cấp và xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng ở nông thôn, nhất là hệ thống đường bộ, cũng có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của nông nghiệp và đời sống của người dân nông thôn. Cơ sở hạ tầng tốt là điều kiện thuận lợi để nông dân giảm chi phí sản xuất và tăng thu nhập, từ đó mới có cơ hội tiếp thu và ứng dụng công nghệ, kỹ thuật canh tác hiện đại để tăng năng suất. Ngoài ra, còn một lĩnh vực rất quan trọng mà Nhà nước phải làm, đó là đầu tư cho nghiên cứu để cải tạo chất lượng giống cây trồng. Hiện nay, dù thu nhập của nông dân Việt Nam rất thấp nhưng không ít sản phẩm làm ra lại không thể cạnh tranh về giá với nông sản đến từ những nước phát triển. Nghịch lý này một phần là do chất lượng giống kém nên năng suất thu hoạch thấp. Trong hơn ba năm qua, Chính phủ đã dành ngày càng nhiều ngân sách hơn để đầu tư cho nông nghiệp và khu vực nông thôn. Thế nhưng, những nỗ lực đó vẫn chưa đủ. Bằng chứng là khu vực ĐBSCL, nơi sản xuất ra lượng gạo và thủy sản xuất khẩu lớn nhất nước, lại là một trong những vùng có hệ thống giao thông đường bộ, giáo dục kém nhất. Thực tế đã cho thấy, nông nghiệp là lĩnh vực đầu tư có thể mang lại hiệu quả cao, cả về kinh tế lẫn xã hội. Đầu tư để tạo nền tảng tốt cho nông nghiệp phát triển, để lưu thông hàng hóa được thuận tiện còn là giải pháp hiệu quả để xóa đói giảm nghèo. Sẽ là sai lầm nếu cho rằng, xây ở tỉnh này một nhà máy lớn, ở tỉnh kia một công trình công nghiệp khổng lồ hay bằng mọi cách xây dựng ở nông thôn những cơ sở sản xuất công nghiệp, như đã từng xảy ra với phong trào xây nhà máy đường, xi măng, gạch ốp lát và nhà máy chế biến rau quả... mới là tạo điều kiện cho nông thôn thoát nghèo và phát triển, dù điều kiện khách quan không thuận lợi. Làm như thế không chỉ tăng tính rủi ro về kinh tế cho bản thân dự án, mà còn phương hại đến toàn bộ nền kinh tế. Việt Nam trước cơn bão giá lương thực toàn cầu Việt Nam có nền kinh tế mở nên chịu tác động mạnh của giá cả trên thị trường toàn cầu, đặc biệt là thông qua con đường nhập khẩu; qua đó kích hoạt tăng giá dây chuyền cho các ngành hàng sản xuất nội địa và thị trường tiêu dùng sản phẩm cuối cùng. Đáng chú ý là các mặt hàng lương thực tăng giá mạnh hiện nay lại là những mặt hàng mà Việt Nam có nhu cầu thiết yếu để phục vụ sản xuất và tiêu dùng. Nhập khẩu nguyên liệu thức ăn chăn nuôi, bắp và lúa mì phục vụ công nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi và chế biến thực phẩm đã đạt kim ngạch xấp xỉ 3 tỉ đô la Mỹ trong năm 2010. Giá thế giới tăng cùng với việc điều chỉnh tỷ giá mới đây đã làm cho giá nhập khẩu đội lên, tăng chi phí cho các nhà sản xuất thức ăn chăn nuôi và bắt buộc họ phải tăng giá bán ra hoặc thu hẹp sản xuất, thậm chí đóng cửa. Xu hướng này đang cộng hưởng với những khó khăn như lãi suất cao hoặc một loạt các chi phí đã và đang tăng giá như điện, xăng. Trong ngắn hạn, thực phẩm có chiều hướng tiếp tục tăng giá chứ không hạ nhiệt vào sau Tết như mọi năm do ngành chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản đối mặt với áp lực chi phí nguyên liệu tăng. Như vậy, xu hướng giá nguyên liệu nhập khẩu và thực phẩm tiêu dùng tăng sẽ tạo nên một làn sóng tăng giá mới gây áp lực lên lạm phát. Dài hạn hơn, các ngành công nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi, chăn nuôi gia súc và nuôi trồng thủy sản sẽ bị tổn thương do giá đầu vào tăng cao trong khi sức mua không được cải thiện trước triển vọng kinh tế còn nhiều khó khăn. Một rủi ro khác đối với Việt Nam ở phương diện xuất khẩu là bão giá lương thực toàn cầu lại không xảy ra đối với mặt hàng gạo. Trong ngắn hạn, giá lúa gạo khó có thể tăng mạnh, thậm chí còn đi xuống kể cả khi có trợ lực từ kế hoạch mua tạm trữ 1 triệu tấn gạo của VFA. Lực đỡ từ tăng nhập khẩu của Indonesia hay Bangladesh không đẩy nổi giá gạo đi lên trong bối cảnh Philippines có kế hoạch giảm nhập khẩu trong năm 2011 còn Thái Lan giảm tồn kho và tăng bán ra thị trường thế giới, Việt Nam đang vào giai đoạn thu hoạch vụ đông xuân. Trong bối cảnh như vậy, ở thị trường nội địa, điều đáng mừng là nguồn cung lúa gạo dồi dào sẽ giúp Việt Nam có điểm tựa để chống chọi với lạm phát. Tuy nhiên, điều đáng buồn là nông dân sản xuất lúa tuy có chút lợi nhuận với giá lúa hiện nay nhưng lại gặp nhiều khó khăn trước mặt bằng giá chung, nhất là giá hàng hóa và thực phẩm. Phạm Quang Diệu