SGTT.VN - Ở Việt Nam, nhìn nhận vấn đề độc quyền trong kinh doanh không chỉ là độc quyền của một số doanh nghiệp mà là độc quyền, đặc quyền của Nhà nước thông qua các doanh nghiệp nhà nước.

Trong phần trước đã giới thiệu “Tự do kinh doanh và độc quyền hành chính", nhóm tác giả đã làm rõ sự độc quyền hành chính đã tác động tiêu cực đến môi trường kinh doanh như thế nào. SGTT xin giới thiệu phần 2 của chủ đề trên. Mặc dù luật Cạnh tranh 2004 được coi là đạo luật tiến bộ, tương thích với pháp luật cạnh tranh của nhiều nước có nền kinh tế thị trường phát triển; tuy nhiên, khi thực hiện thì hiệu quả của luật này thật nhỏ nhoi. Việt Nam đang thiếu một chiến lược có hiệu quả để bảo vệ cạnh tranh lành mạnh, chống độc quyền, chống lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, chống tập trung kinh tế gây hại cho cạnh tranh. Truyền tải điện đang là lĩnh vực độc quyền của nhà nước. Ảnh: TL SGTT Luật cạnh tranh 2004 qui định doanh nghiệp được coi là vị trí độc quyền nếu không có doanh nghiệp nào cạnh tranh về hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp đó kinh doanh trên thị trường liên quan. Nếu căn cứ theo luật này thì dễ thấy có rất ít các doanh nghiệp có vị trí độc quyền và nếu có thì chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực công ích (luật không điều chỉnh doanh nghiệp công ích). Nhưng nếu xét tổng thể, từ giác độ Nhà nước như là một doanh nghiệp đầu tư thì Nhà nước ở vào vị thế là một doanh nghiệp độc quyền (trong một số lĩnh vực) và thống lĩnh thị trường trong rất nhiều lĩnh vực khác (điện, nước, xăng dầu, hàng không, hàng hải, sân bay, bến cảng, cơ khí, xây dựng, viễn thông, ngân hàng, tài chính, bảo hiểm…). Nhà nước cũng đồng thời là đại diện chủ sở hữu các nguồn lực vật chất rất lớn, đa dạng của quốc gia như đất đai, rừng núi, sông biển, tài nguyên khoáng sản… đồng thời là người nắm giữ nguồn lực tài chính khổng lồ (ngân sách, vốn vay…). Do đó, ở Việt Nam nhìn nhận vấn đề độc quyền trong kinh doanh không chỉ là độc quyền của một số doanh nghiệp mà là độc quyền, đặc quyền của Nhà nước thông qua các doanh nghiệp nhà nước. Với một vị thế áp đảo về thị phần hàng hóa, dịch vụ, với một lợi thế về sự hậu thuẫn toàn diện, lâu dài, nhất quán từ phía Nhà nước cả về chính trị lẫn kinh tế, về cơ hội lẫn nguồn lực, về chính sách lẫn thông tin, các doanh nghiệp nhà nước, các tập đoàn, tổng công ty nhà nước đã không những không thúc đẩy được thị trường cạnh tranh phát triển mà ngược lại, rất khó còn đất cho doanh nghiệp dân doanh phát triển, nhất là khi môi trường kinh doanh còn thiếu minh bạch “sân trước, sân sau, sân trên, sân dưới, sân trong, sân ngoài” trong mối quan hệ giữa kinh doanh và công quyền. Các nút thắt tăng trưởng “kinh niên” về hạ tầng cơ sở, vốn là lãnh địa của doanh nghiệp nhà nước hàng mấy chục năm qua (như sân bay, bến cảng…) đang có nguy cơ đẩy nền kinh tế Việt Nam vào bẫy “thu nhập trung bình”. Ảnh: minh họa (SGTT ) Dù được “o bế” như vậy nhưng các đơn vị này không có khả năng cạnh tranh được tại các thị trường nước ngoài, không thể “chủ đạo” được về “năng suất, chất lượng, hiệu quả”, không tạo ra được các “cú đấm thép” để mở đường cho các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế khác phát triển (theo chuỗi giá trị, ngành mũi nhọn, công nghiệp phụ trợ). Ngược lại, các nút thắt tăng trưởng “kinh niên” về hạ tầng cơ sở, vốn là lãnh địa của doanh nghiệp nhà nước hàng mấy chục năm qua (như điện, than, xăng dầu, cầu đường, sân bay, bến cảng, xây dựng…) đang có nguy cơ đẩy nền kinh tế Việt Nam (dù có tăng trưởng nhưng thiếu bền vững, chỉ dựa vào lao động rẻ, khai thác cạn kiệt tài nguyên, gây ô nhiễm môi trường, chất lượng sản phẩm hàng hóa, dịch vụ thiếu tính cạnh tranh) vào bẫy “thu nhập trung bình”, các doanh nghiệp Việt Nam đang có nguy cơ trở thành “trẻ vị thành niên”. Trong điều kiện hiện nay, điều này lại càng khó thực hiện khi phần lớn nguồn lực kinh tế trên thị trường đang do Nhà nước nắm giữ, đồng thời Nhà nước, với chức năng truyền thống là quản lý đất nước, hoạch định các chính sách phát triển kinh tế-xã hội và dùng nguồn lực đó (trực tiếp hoặc thông qua các công cụ của mình là các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước) để hiện thực hóa các chính sách, dẫn đến tình trạng phổ biến kéo dài là Nhà nước “vừa đá bóng, vừa thổi còi”. Thực tế cho thấy “tiếng còi” nhiều khi không được công tâm, còn “đá bóng” thì thiếu tính chuyên nghiệp. Điều cần nhấn mạnh ở đây là nguy cơ biến độc quyền Nhà nước, đặc quyền Nhà nước thành độc quyền, đặc quyền doanh nghiệp trong điều kiện qui trình vận động hành lang chưa được qui định rõ ràng, cụ thể và công khai. Về bản chất, doanh nghiệp nhà nước là thuộc sở hữu toàn dân, do đó, phải có một định chế đại diện cho quyền sở hữu của toàn dân thống nhất thực hiện quyền giám sát, quản lý việc thành lập, tổ chức và hoạt động của nó. Thực tế, quyền đại diện này phân tán tản mác, manh mún, lại thiếu một cơ chế giám sát có hiệu quả (kiểm toán, thanh tra độc lập, cơ chế quản trị doanh nghiệp, giám sát chặt chẽ của người dân và đại diện của họ, tiếng nói của công luận…) nên tình trạng kinh doanh thua lỗ, tham nhũng, lãng phí khá phổ biến. Trầm trọng hơn là một số tập đoàn kinh tế biến thành những tập đoàn độc quyền, khép kín, hoạt động trong một hoặc một số ngành nghề rất quan trọng (thông qua các quyết định hành chính về sáp nhập, hợp nhất, tập hợp các doanh nghiệp cùng ngành nghề thành tập đoàn mẹ con) mà không có sự giám sát của cơ quan quản lý Nhà nước về cạnh tranh như qui định của luật Cạnh tranh. Tàu biển Hoa Sen của Vinashin là một thí dụ về tình trạng kinh doanh thua lỗ, lãng phí ở doanh nghiệp nhà nước. Một số tập đoàn có được vị trí thống lĩnh thị trường (như xăng dầu, vận tải hàng không) hoặc độc quyền (như truyền tải điện) đã thường xuyên vi phạm quyền lợi của người tiêu dùng hoặc áp đặt giữa giá mua, giá bán, điều kiện mua bán, vi phạm luật Cạnh tranh. Hậu quả là nền kinh tế thiếu tính cạnh tranh, người tiêu dùng và các doanh nghiệp vừa và nhỏ không được bảo vệ có hiệu quả và từ đó, năng lực cạnh tranh quốc gia bị tụt hạng. Trước hết, cần xác định vai trò của Nhà nước là khắc phục các khuyết tật của thị trường chứ không tham gia kinh doanh trên thị trường, trừ khi thị trường không muốn hoặc không thể tự giải quyết được. Do nguồn lực của Nhà nước luôn bị hạn chế nên nếu phải tham gia thị trường thì phải là khi thật cần thiết và phải có hiệu quả kinh tế “chủ đạo”. Đối với các hoạt động kinh doanh hiện hữu thì một mặt, cần xác định lộ trình rút lui khỏi thị trường một các có hiệu quả (cổ phần hóa, mua bán doanh nghiệp…), mặt khác, phần còn lại phải được tổ chức một cách chuyên nghiệp, tách ra khỏi hoạt động quản lý của Nhà nước dưới hình thức các tổ chức chuyên trách (một ủy ban hoặc một số công ty tài chính) đầu tư kinh doanh vốn Nhà nước. Cần sớm ban hành các đạo luật liên quan như luật Kinh doanh vốn Nhà nước, luật Mua bán hàng hóa của Chính phủ, luật về kiểm tra, giám sát của Quốc hội đối với ngân sách Nhà nước đầu tư cho hoạt động kinh doanh.