Trong tâm khảm mỗi người dân đất Việt, những câu chuyện, những truyền thuyết và những huyền tích trong thời đại Hùng Vương từ bao đời nay vẫn còn sống mãi.

Điều khiến cho những huyền tích, truyền thuyết ấy có sức sống lâu bền chính là những triết lý nhân sinh, những bài học mà cho đến hôm nay, cư dân đất Việt tìm về từ thuở hồng hoang…

Bài học về sức mạnh đoàn kết

Ai là con dân đất Việt đều mang trong tâm hồn mình niềm tự hào về dòng dõi Tiên Rồng, về nguồn cội thiêng liêng và cao quí.

Những truyền thuyết về nguồn cội của dân tộc Việt Nam bắt nguồn từ truyền thuyết về Lạc Long Quân - Vị Quốc Tổ của muôn dân Đất Việt và Đệ nhất Tiên Thiên Công chúa - Quốc Mẫu Âu Cơ sinh ra bọc trăm trứng rồi do điều kiện sinh tồn và môi trường sống, mỗi người dẫn 50 người con đi về một phương trời để “khai thiên phá thạch”, tạo lập giang sơn. Còn đây, di tích lịch sử đền Quốc Mẫu Âu Cơ (xã Hiền Lương - Hạ Hòa - Phú Thọ), đền thờ Lạc Long Quân tại quần thể khu di tích lịch sử đặc biệt Đền Hùng.

Triet ly nhan sinh trong huyen tich thoi Hung Vuong - Anh 1

Lễ tế Mẫu trong lễ hội đền Mẫu Âu Cơ.

Và đặc biệt, hình tượng “bọc trăm trứng” của Mẹ Âu Cơ đã trở thành biểu tượng thiêng liêng về nguồn cội của dân tộc Việt Nam. Đó là sự gắn kết, là sự hội tụ muôn dân đất Việt. Bọc trăm trứng vừa là niềm tự hào của người Việt Nam về nguồn gốc “Con Rồng cháu Tiên”, vừa biểu thị cho tinh thần đoàn kết một lòng của những con người sống trên dải đất hình chữ “S”. Sau này, chủ tịch Hồ Chí Minh đã lấy biểu tượng đó để cất lên tiếng xưng hô vừa gần gũi, vừa thiêng liêng “đồng bào”. Bài học về sức mạnh đại đoàn kết dân tộc bắt nguồn từ hình tượng “bọc trăm trứng”, từ sức lan tỏa của ý thức cộng đồng được Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân dân Việt Nam cụ thể hóa thành sức mạnh dân tộc trong những giai đoạn lịch sử quan trọng của dân tộc và trong thời đại hôm nay.

Tư tưởng “Trọng nông”

Là con dân Đất Việt, có ai mà không biết đến truyền thuyết bánh chưng bánh dày. Huyền tích còn lưu giữ hình ảnh người con út của Vua Hùng là hoàng tử Lang Liêu do nghèo khó, không có của ngon vật lạ để tiến dâng vua cha, chỉ biết lấy hạt gạo, thứ ngũ cốc nuôi sống con người hằng ngày, do chính bàn tay con người làm nên để làm thành hai thứ bánh vuông, tròn tượng trưng cho trời và đất. Vua Hùng đã dừng lại mâm bánh của Lang Liêu và thấu hiểu tấm lòng thơm thảo của người con cũng như ý nghĩa sâu xa của thứ bánh được chiết suất từ đời sống nông nghiệp. Cho đến hôm nay, câu chuyện về những thức bánh thảo thơm của Lang Liêu ngày nào không còn là huyền tích nữa bởi nó đã in đậm trong lời ăn tiếng nói, trong phong tục của người Việt. Để rồi truyền thuyết hiện hữu trong những ngôi nhà, những miền đất, những cái Tết quê sum vầy.

Tư tưởng “trọng nông” đã khởi thủy từ thời Hùng Vương. Điều đó được lưu giữ trong huyền tích về hình ảnh Vua Hùng đích thân lội xuống ruộng, dạy dân trồng lúa nước, làm ra hạt gạo để nuôi sống con người. Truyền thuyết Hùng Vương vùng Đất Tổ Phú Thọ kể rằng: “Thời xưa, khi nhân dân chưa biết cày, cấy làm ra thóc gạo mà ăn, chỉ sống bằng thịt thú rừng, rễ cây, quả và các loại rau dại, lúa hoang nhặt được. Các vùng đất ven sông mỗi lần nước lớn dâng lên lại được phù sa bồi thêm màu mỡ. Vua Hùng thấy đất ấy tốt lắm, mới gọi dân đến bảo tìm cách đắp bờ giữ nước. Vua thấy lúa mọc hoang nhiều mới bày cách cho dân giữ hạt, gieo mạ, khi mạ lên xanh thì đem cấy vào các tràn ruộng có nước. Lúc đầu dân không biết cấy, tìm hỏi vua. Vua Hùng nhổ mạ lên, đem tới ruộng nước, lội xuống cấy cho dân xem, mọi người làm theo. Cấy tới khi mặt trời đứng bóng, Vua nghỉ tay cùng mọi người ăn uống ở dưới gốc đa lớn” (Nguồn sách Lễ hội truyền thống vùng Đất Tổ).

Bài học nhân sinh về cây lúa, về đời sống nông nghiệp và quí trọng từng tấc đất đã được huyền tích thời Hùng Vương gieo vào tâm hồn người nông dân Việt Nam nói riêng và muôn dân đất Việt nói chung từ bao đời nay. Dù xã hội có hiện đại đến mấy, công nghiệp có phát triển đến đâu thì cây lúa vẫn xanh tốt trên những cánh đồng phì nhiêu. Đó là nguồn ngũ cốc nuôi sống con người, làm giàu cho dân tộc. Ngày nay, tại xã Minh Nông (Thành phố Việt Trì- Phú Thọ) vẫn còn duy trì tổ chức lễ hội “Tịch điền” để tưởng nhớ Vua Hùng và tôn vinh cây lúa, nghề trồng lúa. “Đời sau, nhân dân nhớ công ơn Vua Hùng tôn Vua làm tổ nghề nông, thường gọi là Thần Nông. Dựng đàn tịch điền quay lưng về hướng Tây Nam ngay trên mom đất Vua ngồi khi dạy dân cấy lúa. Đặt kho lương thực trên đồi lúa; để rạ ở đồi Rơm. Đặt chợ là chợ Lú. Cây đa lớn tỏa bóng mát để Vua cùng dân ngồi nghỉ gọi là cây đa Đồn” (Nguồn sách Lễ hội truyền thống vùng Đất Tổ).

Tư tưởng “gần dân”

Từ thuở xa xưa cho đến hôm nay, khi nhắc đến hình tượng Vua Hùng, hình ảnh Vua Hùng sống gắn bó, chan hòa với nhân dân đã nói lên tư tưởng “gần dân” của bậc quân vương thời kỳ đó. Những tên đất, tên làng quanh núi Nghĩa Lĩnh còn in dấu chân Vua Hùng, lưu giữ những câu chuyện về nhà vua đi về với cuộc sống của dân, dạy dân múa hát, dạy dân trồng lúa, trồng kê… Đó là Gò Tiên Cát, Lầu Phượng bên bờ sông Lô, Tháp Lọng (nay thuộc xã Kim Đức - thành phố Việt Trì) Đồng Lú (nay thuộc phường Minh Nông, thành phố Việt Trì); Gò Mã Lao, xứ đồng Hương Trầm; làng Thậm Thình là những địa danh các Vua Hùng đi tới trong những chuyến đi săn, những lần về dạy trồng lúa… Huyền tích và thơ ca kể về tình cảm gần gũi, ấm áp giữa Vua- Tôi, tình cảm thơm thảo của dân dành cho nhà Vua: “Dân dâng một quả xôi đầy/Bánh chưng mấy cặp bánh dầy mấy đôi/Đẹp lòng vua phán bầy tôi/Tìm đất, kén thợ, định nơi xây nhà” (Qua Thậm Thình - Nguyễn Bùi Vợi). Tư tưởng “gần dân”, “trọng dân”, “lấy dân làm gốc” được các triều đại áp dụng để xây dựng và bảo vệ giang sơn tổ quốc. Đặc biệt, trong thời đại Hồ Chí Minh, Đảng ta đã vận dụng thành công tư tưởng này để làm nên sức mạnh dân tộc.

Những bài học được lưu giữ từ trong những truyền thuyết, những huyền tích Hùng Vương và được truyền lại từ đời nay sang đời khác đến hôm nay vẫn còn vẹn nguyên giá trị. Đó là những triết lý không hề cao siêu hay xa vời bởi những bài học ấy gắn với tâm hồn, nhân cách của cư dân đất Việt, gắn với cuộc sống đời thường của con người. Trở về nơi nguồn cội, mỗi người dân Việt Nam lắng nghe được tiếng đồng vọng của cha ông trong lịch sử, đó là tiếng của “Những buổi ngày xưa vọng nói về”, tìm thấy sức mạnh của dân tộc mình hiện hữu trong huyết quản của mỗi người và sáng niềm tin vào tương lai.

Nguyễn Thế Lượng