Từ trước tới nay không ít trường hợp trẻ nhỏ bị bỏng nước sôi, nguyên nhân một phần do sự bất cẩn của người lớn khiến con trẻ bị thương tật cả đời.

Báo Dân trí đưa tin, theo số liệu thống kê của Viện bỏng Quốc gia thì cứ trong 100 nạn nhân bỏng có từ 40 đến 65 là trẻ em. Trong 100 trẻ em bị bỏng thì có từ 50 đến 60 là nằm trong độ tuổi từ 1 đến 3. Những tác nhân gây bỏng ở trẻ chủ yếu là do bỏng nước sôi (phích nước nóng, ấm nước nóng, nồi cơm điện), bỏng do thức ăn (canh nóng, cháo nóng) và phần còn lại là bỏng do lửa, hóa chất và điện.

Vào tháng 3/2016, Khoa Hồi sức cấp cứu Viện bỏng Quốc gia tiếp nhận trường hợp của bé Phạm Ngọc Mai 3 tuổi, ở xã Lạc Hồng, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên bị bỏng nước sôi toàn thân.

Tre nho bi bong nuoc soi: Loi canh tinh cho cha me khi mua Dong den - Anh 1

Bé Mai trong tình trạng bỏng nặng toàn thân. Ảnh: Dân trí

Theo lời kể của anh Chanh (bố bé Mai) kể lại, hôm đó anh đi làm, chỉ được mọi người báo tin và chạy về nhà thì con gái đã ra nông nổi này. Mọi người kể là vợ đun nước sôi để chuẩn bị tắm cho con gái nhỏ. Lúc vợ tay bế con gái, tay cầm phích nước sôi thì phích bị rò điện, giật vợ ngã xuống sàn và cũng đổ luôn cả phích nước vào người con.

Cũng cấp cứu tại Viện bỏng Quốc Gia, cậu bé chỉ mới 21 tháng tuổi là Nguyễn Bá Đại T. quê ở xã Cao Sơn, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An, vừa được chuyển từ quê nhà ra Hà Nội để cấp cứu vì ca bỏng nước sôi toàn thân. Chị Nguyễn Thị Trâm A., sinh năm 1987, khuôn mặt thẫn thờ bên cậu con trai bé bỏng không may bị tai nạn thương tâm.

Chị Trâm A. ngẹn ngào kể lại, cháu bị bỏng thế nào em cũng không rõ, vì lúc đó chị đang đi làm công nhân của nhà máy Sam Sung ở Thái Nguyên, chỉ nghe bà ngoại kể lại là bà đun nước sôi để sau hè, rồi hai chị em chơi đùa thế nào mà cháu ngã vào nồi nước sôi khiến bỏng nặng toàn thân.

Thông tin thêm về các trường hợp bỏng nặng do nước sôi, Thạc sĩ Ngô Anh Vinh – Khoa Cấp cứu và Chống độc bệnh viện Nhi trung ương cho biết trên báo Infonet, lứa tuổi bị bỏng nhiều nhất là 2 đến 5 tuổi. Ở tuổi này trẻ rất hiếu động, tò mò, muốn khám phá và chưa ý thức được nguy hiểm.

Có nhiều tác nhân gây bỏng, thường gặp nhất ở trẻ em là bỏng do nước sôi. Ngoài ra có thể là do dầu mỡ sôi, lửa hoặc điện, hóa chất. Tổn thương bỏng rất đa dạng. Bỏng ở vị trí cánh cẳng tay, đặc biệt là bàn tay, ảnh hưởng rất nhiều đến sinh hoạt và lao động. Ngoài ra các vị trí bỏng ở vùng mặt hoặc bộ phận sinh dục cũng rất nguy hiểm vì ảnh hưởng đến thẩm mỹ và chức năng sinh sản của trẻ.

Cách sơ cứu trẻ bị bỏng

Tin tức trên báo Sức khỏe & Đời sống, theo các chuyên gia, khi trẻ không may bị bỏng lửa, nước sôi, cha mẹ và người thân cần nhanh chóng đưa trẻ ra khỏi nguồn gây bỏng và thực hiện các bước sau:

Làm mát vết bỏng, tránh cho da khỏi bị rộp bằng cách mở vòi nước cho chảy chầm chậm lên vết bỏng khoảng 15 - 20 phút. Nước sạch vừa có tác dụng giảm nhiệt, giảm đau, giảm phù nề, viêm nhiễm, giảm độ sâu của vết thương. Không dùng nước lạnh, nước đá (trong tủ lạnh) để làm mát da cho trẻ.

Nhẹ nhàng tháo bỏ những vật cứng trên vùng bỏng như giầy, dép, vòng trước khi vết bỏng sưng nề. Che phủ vùng bỏng bằng gạc vô khuẩn. Nếu không có gạc có thể dùng vải sạch.

Tre nho bi bong nuoc soi: Loi canh tinh cho cha me khi mua Dong den - Anh 2

Nếu trẻ bị bỏng bạn nên làm mát vết bỏng, tránh cho da khỏi bị rộp bằng cách mở vòi nước cho chảy chầm chậm. Ảnh minh họa

Nếu vết bỏng nhẹ, diện tích da bị bỏng nhỏ, tổn thương có thể tự liền nhờ quá trình biểu mô hóa, sau khi sơ cứu có thể điều trị tại nhà theo hướng dẫn của bác sĩ. Nếu nặng hơn thì ngay sau khi sơ cứu cần chuyển trẻ đến cơ sở y tế gần nhất để các bác sĩ điều trị kịp thời.

Tuyệt đối không được dùng nước mắm, kem đánh răng,… hoặc các loại thuốc mỡ bôi để đắp lên vết bỏng. Việc sơ cứu không đúng cách sẽ khiến tình trạng bỏng nặng thêm gây khó khăn trong điều trị. Khi trẻ bị bỏng cha mẹ hoặc người thân cần bình tĩnh, nhanh chóng, nhẹ nhàng khi sơ cứu tránh trẻ bị sốc.

Điều quan trọng là cần phòng tránh nguy cơ gây bỏng cho trẻ. Trẻ nhỏ vốn hiếu động, tò mò,… do đó cha mẹ cần luôn chú ý giám sát trẻ, sắp xếp đồ đạc mọi thứ quanh nhà hợp lý. Để phích nước sôi, thức ăn mới nấu, bàn là đang nóng, bật lửa,... ở nơi trẻ không sờ hoặc với tới được. Bố trí bếp và nơi nấu ăn hợp lý như để bếp lò phẳng, cao để trẻ không với tới được hoặc có vách ngăn không cho trẻ tới gần. Khi nấu ăn luôn quay cán xoong, chảo vào phía trong. Không để trẻ nhỏ tự ăn, tự tắm vòi nước nóng lạnh, luôn kiểm tra nhiệt độ nước trước khi tắm cho trẻ. Khi bê nước nóng, thức ăn mới nấu tránh xa trẻ để không va đụng. Kiểm tra nhiệt độ của thức ăn, đồ uống trước khi cho trẻ ăn, uống. Không nên ăn thức ăn nóng khi bế trẻ nhỏ,…

An Dương (T/h)