Dịch mật tiết ra khoảng 700-800 ml mỗi ngày và được dự trữ bình thường trong túi mật. Đến bữa ăn, túi mật co bóp và chuyển dịch mật trong túi mật vào tá tràng.

Dịch mật được tiết ra từ gan, có màu vàng đến hơi xanh, có vị đắng và tính kiềm (pH từ 7 đến 7,7). Dịch mật được tiết ra khoảng 700 đến 800 ml mỗi ngày và được dự trữ bình thường trong túi mật. Đến bữa ăn, túi mật co bóp và chuyển dịch mật trong túi mật vào tá tràng.

Vai trò của dịch mật là tiêu hóa chất béo, giúp hấp thụ các vitamin tan trong dầu như A,D,E,K; kích thích tăng tiết và hoạt hóa dịch tụy, dịch ruột; tạo môi trường kiềm ở ruột, kích thích nhu động ruột, ức chế hoạt động của vi khuẩn lên men thối.

Ngoài chức năng tiêu hóa, mật còn giúp loại bỏ bilirubin-sản phẩm thoái hóa của Hemoglobin trong hồng cầu. Bình thường môn vị (phần cuối dạ dày) là van một chiều không cho các chất từ tá tràng trào ngược lên dạ dày, nhưng vì một lý do nào đó van môn vị đóng không kín dẫn tới dịch mật trào ngược lên dạ dày rồi từ đó trào ngược lên thực quản nếu van tâm vị mở.

Trao nguoc dich mat da day - nguyen nhan, chan doan va dieu tri - Anh 1

1. Nguyên nhân của trào ngược dịch mật lên dạ dày

-Loét dạ dày tá tràng làm cơ môn vị yếu hơn bình thường; ứ đọng thức ăn lâu trong dạ dày cũng làm tăng áp lực dạ dày khiến cơ tâm vị và môn vị yếu .

-Các biến chứng sau phẫu thuật cắt dạ dày: sau các phẫu thuật về dạ dày như cắt bỏ một phần dạ dày hay cắt dạ dày để giảm cân trong béo phì thì van môn vị hoạt động không ổn định gây nên hiện tượng đóng không khít

-Phẫu thuật túi mật: Người ta thấy có sự gia tăng trào ngược dịch mật ở những bệnh nhân đã cắt bỏ túi mật.

2. Triệu chứng và chẩn đoán

-Đau bụng thượng vị là triệu chứng hay gặp, đau tức hay từng cơn; cảm giác nóng rát cồn cào vùng ngực, bụng trên.

-Ợ nóng, đắng miệng.

-Nôn ra chất lỏng xanh vàng, đắng họng (đây là dấu hiệu quan trọng nhất gợi ý chẩn đoán trào ngược dịch mật)

-Ho khan khàn giọng do dịch mật trào lên thực quản

-Đầy bụng, chậm tiêu, giảm cân

-Nội soi dạ dày tá tràng là biện pháp quan trọng để chẩn đoán trào ngược dịch mật. Nên gây mê nội soi vì lúc đó co bóp dạ dày, đóng mở môn vị, tâm vị ít chủ động hơn từ người bệnh. Qua nội soi có thể nhìn thấy hình ảnh trực tiếp dịch mật từ tá tràng trào qua lỗ môn vị, thấy dịch mật đọng từng đám ở các nếp niêm mạc thân vị, phình vị. Ngoài ra ta có thể phát hiện các tổn thương của dạ dày, thực quản. Tuy nhiên nội soi chỉ phát hiện được dịch mật trào lên tại thời điểm soi nên vẫn còn có hạn chế.

3. Điều trị

Trào ngược dịch mật dạ dày nếu không điều trị có thể gây biến chứng trào ngược thực quản dạ dày,viêm loét và ung thư thực quản. Do đó cần tư vấn cho người bệnh nhận thức rõ về mức độ nguy hiểm của căn bệnh này.

Thuốc chữa bệnh viêm dạ dày trào ngược dịch mật

– Nhóm thuốc có cơ chế làm giảm hoặc loại bỏ mật: như Questran và Colestid, cisaprid trong đó thuốc Cisaprid được dùng để chữa bệnh cho trẻ em, tuy vậy chúng vẫn có những tác dụng phụ nhất định nên rất cần cẩn thận khi sử dụng. Dùng ursodeoxycholíc acid làm giảm triệu chứng đau bụng,buồn nôn và nôn dịch mật đang được bàn luận thêm

– Điều trị bằng thuốc ức chế bơm proton: tuy không được sự ung hộ hoàn toàn của các bác sĩ trên thế giới tuy vậy phương pháp này vẫn được tiến hành điều trị trào ngược dịch mật cho bệnh nhân. Phía phản đối cách chữa này cho rằng thuốc ức chế bơm proton có thể hạn chế lượng axit tiết ra nhưng lại gia tăng tình tràng trào ngược dịch vị.

Biện pháp điều trị bệnh viêm dạ dày trào ngược dịch vị bằng phẫu thuật

– Phương pháp antireflux: với mục đích khắc phục khả năng co thắt của cơ vòng thực quản. Cơ vòng thắt chặt thì axit cũng như dịch mật không thể trào ngược lên trên. Một phần của dạ dày, nằm gần ngay thực quản sẽ được gói lại và khâu vòng quanh cơ thắt thực quản.

– Phương pháp Roux-en-Y: phương pháp này không đảm bảo xử lý được bệnh, khả năng bệnh nhân chữa được chữa được chứng trào ngược dịch mật với biện pháp phẫu thuật này là 50-90%. Bác sĩ tiến hành dẫn ống mật nối chung với hỗng tràng. Điều này có nghĩa là lượng dịch mật sẽ được chuyển đến hỗng trang thay vì đổ trực tiếp và tá tràng như trước.

4. Phòng bệnh

-Chia nhỏ bữa ăn, không ăn quá no

-Không nằm nghỉ, ngủ ngay sau bữa ăn, tốt nhất nằm sau bữa ăn 1 tiếng; Khi ngủ nằm đầu cao hơn chân khoảng 10 đến 15 cm.

-Tránh các thực phẩm giàu chất béo, giấm, hành tây, cà chua, cam quýt, socola, thực phẩm nhiều gia vị

-Không sử dụng rượu bia, đồ uống có gas, cà phê

-Không hút thuốc lá

-Giảm cân

-Không thức khuya, tránh stress.

BS. Nguyễn Hồng Quân