Với năng lực, kinh nghiệm của mình, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài có thể làm cầu nối giúp TP.HCM truy cập vào các kho dữ liệu quốc tế, hỗ trợ tìm hiểu nhu cầu trong và ngoài nước để đưa ra những “đề bài” phù hợp với thực tiễn cho các nhà khoa học.

Nhiều thành tựu

Nghị quyết Đại hội Đảng bộ TP.HCM lần thứ X, nhiệm kỳ 2015-2020 đã đặt ra mục tiêu xây dựng TP “sớm trở thành một trong những trung tâm lớn về kinh tế, tài chính, thương mại, khoa học - công nghệ của khu vực Đông-Nam Á”.

Trong đó, xác định “Phát triển mạnh mẽ khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội gắn với phát triển kinh tế tri thức; ưu tiên đầu tư cho khoa học và công nghệ so với các lĩnh vực khác; gắn nghiên cứu, đào tạo với sản xuất – kinh doanh”.

Một trong số những chỉ tiêu tổng hợp là nâng tốc độ tăng năng suất lao động từ 5.6% lên 6.5%, và chỉ số đóng góp của năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP) từ 32% lên hơn 35%.

Theo ông Nguyễn Việt Dũng, Giám đốc Sở Khoa học & Công nghệ (KH&CN) TP.HCM, trong giai đoạn 2011 – 2015, TP đã tập trung triển khai nhiều nhiệm vụ KH&CN phục vụ 4 ngành công nghiệp chủ lực, 9 ngành dịch vụ, ngành công nghiệp hỗ trợ và 6 chương trình đột phá.

TP cũng tiếp tục đầu tư cơ sở vật chất để phát triền tiềm lực KH&CN, hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng suất, chất lượng, tiết kiệm năng lượng, phát triển tài sản trí tuệ, xây dựng mô hình liên kết doanh nghiệp – nhà nước – tổ chức nghiên cứu ...

Ngân sách TP chi cho KH&CN giai đoạn 2011 -2015 chiếm tỷ lệ trung bình 2,06% so với tổng chi ngân sách của TP, đạt mức 5.783,5 tỷ đồng.

Trong đó, chi cho đầu tư phát triển chiếm 80,03% và chi cho sự nghiệp chiếm 19,7%. Nhiều mô hình như Công viên phần mềm Quang Trung, Khu Công nghệ cao, Khu Nông nghiệp công nghệ cao... đã ra đời và được trang bị cơ sở hạ tầng, thiết bị hiện đại, phát triển mạnh mẽ, đúng với kỳ vọng mà TP đã đề ra.

Bên cạnh đó, thực hiện nhiệm vụ lấy doanh nghiệp làm trung tâm của hoạt động KH&CN theo định hướng đổi mới công nghệ, ứng dụng và phát triển công nghệ cao, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, TP cũng nỗ lực triển khai nhiều chương trình hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng KH&CN.

Kết quả, hàng ngàn doanh nghiệp đã được hỗ trợ trong việc đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực nghiên cứu thiết kế, chế tạo và chuyển giao thiết bị mới, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả...

TPHCM can su hop tac ve KHCN cua kieu bao - Anh 1

Phát triển KH&CN, Việt Nam cần thêm sự chung sức của đội ngũ Kiều bào

Việc phát triển thị trường công nghệ cũng được chú trọng đầu tư với các mộ hình “Chợ công nghệ và thiết bị (Techmart)” và đề án thử nghiệm “sàn giao dịch công nghệ TP”.

Đến nay, các mô hình này đã được nhân rộng và tổ chức thường kỳ tại nhiều địa phương trên cả nước.

Cần sự giúp sức của Việt kiều

Trao đổi tại hội nghị Người Việt Nam ở nước ngoài toàn thế giới với chủ đề “Kiều bào chung sức xây dựng TP.HCM phát triển nhanh, bền vững và hội nhập quốc tế” mới đây, ông Nguyễn Việt Dũng cho biết, để KH&CN thực sự trở thành động lực phát triển kinh tế - xã hội, sự đóng góp của Kiều bào là vô cùng quan trọng.

Theo ông Dũng, hiện nay, TP đang hướng đến việc định hình lại khung chính sách về KH&CN sao cho bài bản hơn. Trong đó, hướng tới các môi trường ươm tạo, nghiên cứu thương mại hóa và xây dựng hệ thống đổi mới sáng tạo khác biệt, phát huy mô hình hợp tác công – tư...

Tuy nhiên, đây đều là những chính sách mới, cần có thời gian để kiểm chứng độ hiệu quả khi áp dụng vào thực tế. Chính vì vậy, kinh nghiệm, mô hình triển khai ở các nước phát triển mà Kiều bào đang sinh sống là hết sức đáng quý. Nếu được truyền đạt lại cho các đơn vị trong nước, chắc chắn sẽ tạo sự thuận lợi hơn cho Nhà nước cũng như doanh nghiệp trong việc xây dựng nên chính sách, mô hình chung.

Việc xây dựng 1 hệ thống thông tin chuyên gia về KH&CN cũng là rất cần thiết, khi Việt Nam đang gặp khó khăn trong việc truy cập vào các kho dữ liệu quốc tế. Các nghiên cứu ở trong nước kết nối với Kiều bào cũng gần như không có. Điều này dẫn tới việc, sản phẩm nghiên cứu ra, dù có tốt đến đâu cũng vẫn chỉ loanh quanh tại thị trường trong nước, chưa được nhiều doanh nghiệp trên thế giới biết đến.

Chính vì vậy, “xây dựng hệ thống thông tin là việc làm cần thiết để hợp tác với nhau cùng phát triển, phát huy hết lợi thế chất xám trong nước”, ông Nguyễn Việt Dũng đánh giá.

Bên cạnh việc đào tạo nguồn nhân lực hàn lâm (Tiến sĩ, thạc sĩ), thời gian gần đây, TP đã đẩy mạnh việc đào tạo nguồn nhân lực ứng dụng (chuyên gia), đặc biệt là trong những ngành công nghệ hiện hữu có thể ứng dụng ngay vào đời sống.

Theo ông Dũng, với nguồn tri thức của mình, kiều bào hoàn toàn có thể hỗ trợ TP trong việc đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao này.

TP cũng đã ban hành nhiều chính sách thu hút việc kiều về làm việc. Có thể kể đến như chính sách trả lương lên đến 150 triệu đồng/ tháng, hỗ trợ chi phí đi lại, ăn ở... Những chính sách này đã bắt đầu phát huy hiệu quả khi tầng lớp trí thức Việt kiều về nước làm việc ngày càng nhiều, đóng góp tích cực cho quá trình phát triển KH&CN của TP.

Đối với việc phát triển thị trường KH&CN, dù đã xây dựng hệ thống techmart và thí điểm sàn giao dịch công nghệ, nhưng đây mới chỉ mang tính chất như một sàn thương mại điện tử, cung cấp các thiết bị là chính, chưa có sự tương tác qua lại thực sự hữu hiệu giữa các doanh nghiệp, nhà nghiên cứu, nhà khoa học trong và ngoài nước.

Ông Dũng cho biết, qua tiếp xúc với các doanh nghiệp, đại sứ quán ở nước ngoài, được biết có rất nhiều doanh nghiệp muốn hợp tác, chuyển giao công nghệ với các doanh nghiệp trong nước. “Thế nhưng, họ không có một kênh giao lưu, cũng không thể chờ đến kỳ tổ chức các hội chợ, triển lãm rồi mới tham gia, hợp tác. Cái mà họ cần là phải có một cách nào đó nhanh chóng để kết nối với nhau. Do đó, nếu có cổng thông tin chính thống về giao dịch KH&CN, trong đó nêu hết sản phẩm, hạng mục được chào bán thì quá tốt”, ông Dũng đánh giá.

Bên cạnh đó, ông Dũng cũng cho rằng, các tổ chức trung gian là phần không thể thiếu của thị trường KH&CN. Thế nhưng, đây lại là khâu yếu nhất của Việt Nam khi năng lực của các tổ chức trung gian còn kém.

Điều này dẫn tới việc, các đề tài trong viện, trường khi được nghiên cứu xong, muốn định giá để làm cơ sở chuyển giao thì các đơn vị trung gian trong nước chưa thực hiện được.

Chính vì thế, ông Dũng mong muốn đội ngũ Việt kiều, với năng lực, kinh nghiệm của mình, có thể hỗ trợ TP trong việc xây dựng các tổ chức trung gian mạnh, đủ năng lực. Không chỉ có khả năng định giá sản phẩm, đề tài nghiên cứu, mà còn có khả năng làm cầu nối, tìm hiểu nhu cầu trong và ngoài nước như thế nào để đưa ra những “đề bài” phù hợp với thực tiễn cho các nhà khoa học, tránh tính trạng đề tài nghiên cứu ra bị “xếp vào ngăn kéo” hay không thể chuyển giao như hiện nay.

Thiện An