Từ một thanh niên bình thường, đồng chí Phan Văn Trang – một nhà cách mạng lão thành của tỉnh Đồng Nai đã cống hiến hơn 30 năm tuổi xuân của mình cho hai cuộc kháng chiến.

Đó là 30 năm của một đời người lặn lội trong rừng sâu chiến khu, hay len lỏi trong vùng địch hậu, cũng vì lẽ ấy, chỉ có những ký ức ghi lại cuộc đời đẫm máu, đẫm nước mắt nhưng cũng là những trang sử huyền thoại sáng lòa mới có thể diễn tả được cuộc đời của ông…

Ngày niềm vui lớn về với muôn nhà

TP. Bien Hoa – Dat va Nguoi - Anh 1

TP Biên Hòa sau khói lửa chiến tranh.

Sinh ra tại xã Tân Hiệp, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Biên Hòa ( nay là xã Tân Bình, Dĩ An, Bình Dương) trong một gia đình nông dân, đồng chí Phan Văn Trang bắt đầu tham gia cách mạng từ năm 17 tuổi, đến năm 19 tuổi được kết nạp Đảng. Từ đó, cuộc đời ông đã dành hết 30 năm để cống hiến cho Tổ quốc, đi qua hai cuộc chiến tranh khói lửa đẫm máu cho đến ngày đất nước giành được độc lập. Đối với ông, ngày mà đất nước hòa trong niềm vui lớn chính là ngày hạnh phúc nhất trong suốt quãng thời gian mà ông đã sống và chiến đấu cùng đồng đội trên mảnh đất Đồng Nai này.

Ngày đất nước kết thúc chiến tranh giành thắng lợi trọn vẹn, cả nước hòa trong niềm vui lớn của dân tộc, đồng chí Phan Văn Trang cũng hòa trong niềm vui ấy. Một đất nước nghèo mà chịu đựng chiến tranh suốt 30 năm (tháng 8/1945 – tháng 4/1975), ngẫm lại mới thấy sức chịu đựng của con người Việt Nam mới thật ghê gớm.

Đói rét, bệnh tật chốn rừng thiêng nước độc, rồi mưa bom bão đạn của quân thù xâm lược không làm sao tính nổi cảnh tượng ác liệt, rùng rợn này. Lòng yêu nước của con người tính bằng tinh thần cách mạng, thà hi sinh chứ không chịu cúi đầu, nhờ vậy mà cứ vui vẻ cươn tới và đi lên không nản chí, không sờn lòng, mưu cầu thoát cho được kiếp người nô lệ ngoại bang giành độc lập dân tộc. Hát bài hát xung trận hùng hồn “Giải phóng miền Nam chúng ta cùng quyết tiến bước. Diệt đế quốc Mĩ đánh tan bè lũ bán nước…”, lòng dạ của ông cũng như mỗi người dân Việt Nam đều có sự thúc giục chiến đấu, đánh để giải phòng dân tộc, để giải phóng miền Nam thân yêu, để mọi người được đoàn tụ.

Ngày 30/4/1975 đánh dấu một mốc son lịch sử của đất nước, miền Nam sạch bóng quân thù, quân viễn chinh Mĩ và quân chư hầu rút khỏi miền Nam. Quân đội ngụy tay sai thất bại, nhận được sự khona hồng của Đảng cộng sản Việt Nam, những người lính ngụy được về sum họp với gia đình, làng xóm. Ai cũng cảm thấy sự khoan hồng của Đảng, chưa bao giờ có trong lịch sử, chỉ vì lòng nhân đạo, vì máu đỏ da vàng. Tại TP Biên Hòa nơi đồng chí Trang được phân công phụ trách Bí thư Thành ủy, Phó Chủ tịch Ủy ban Quân dân TP. Biên Hòa, chính tay ông đã ký lệnh cho 23.000 binh sĩ, sĩ quan ngụy được khoan hồng, đi học tập theo chỉ thị cấp trên.

Xây dựng thành phố Biên Hòa từ những đau thương

TP. Bien Hoa – Dat va Nguoi - Anh 2

TP Biên Hòa trong khói lửa chiến tranh.

Tiếp quản một thành phố lớn ở miền Nam như Biên Hòa thật ngổn ngang. Biên Hòa chỉ cách Sài Gòn 30km nên Mĩ – ngụy càng tập trung xây dựng tuyến áng ngữ phòng thủ để bảo vệ sào huyệt của chúng. Mặt khác, trong thời chiến tranh ác liệt, hàng ngày người dân từ các nơi như miền Trung, miền Tây chạy dồn về Biên Hòa khiến cho xã Bình Trước ngày nào cũng đông nghẹt, có lúc lên tới 360 ngàn dân. Trước tình hình hỗn loạn đó, đồng chí Phan Văn Trang đã từng nước chỉ đạo, giải quyết giãn dân đi vào ổn định cuộc sống. 10h30 sáng ngày 30/40/1975, tiến quân chiếm lĩnh thành phố quê hương trong niềm vui đại thắng, người cách mạng lão thành ấy mang trong mình một niềm vui khôn tả mà đứng tại cột cờ Tòa bố ngụy nhìn ra sông Đồng Nai, trưa rồi mà nước sông vẫn còn chảy êm đềm, nước lóng lánh.

Vui mừng và vinh dự khi thấy mình đã góp được một phần sức lực trong cuộc đại thắng ngày hôm ấy để mọi người được sum họp, nhưng ông cũng không khỏi xúc động khi chứng kiến cảnh những người tìm trong đoàn quân không thấy bóng dáng người con, người chồng, người cha của mình, rồi lại khóc òa lên. Có lẽ thời gian rồi cũng khiến họ nguôi ngoai vì người thân của họ đã chiến đấu cho Tổ quốc hồi sinh, cho độc lập tự do, cho đất nước thanh bình.

Ngày hôm ấy, khi đứng trên cột cờ Tòa bố của chế độ cũ, nói chuyện với đồng bào trong niềm vui đại thắng, ông nhận được một bó hoa tươi thắm của nhân dân Biên Hòa do một nữ thanh niên đưa tặng như là phần thưởng của nhân dân thành phố cho người Bí thư Thành ủy của mình trong giờ khắc lịch sử ấy. Một niềm xúc động trào dâng trong tim người cách mạng đã đi qua bão táp mưa sa ấy, cho dù sau này có được nhận những bó hoa đẹp hơn, quý hơn, nhưng có lẽ không có bó hoa nào so được với bó hoa ấy nữa.

Thành phố Biên Hòa sau chiến tranh, sạch bóng quân thù, nhưng mùi bom đạn và hình bóng của chúng vẫn còn khắp đó đây. Hàng chục trại lính, đồn bốt, sân bay, kho bom đạn khổng lồ sừng sững,… bây giờ là của ta quản lý, là tài sản của nhân dân để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ quê hương.Nhớ lại kỉ niệm của những ngày thành phố mới giải phóng, trong lòng đồng chí Phan Văn Trang lại rộn ràng. Công việc rất bề bộn, nhưng ai nấy đều làm việc năng nổ, hăng hái, nhiệt tình, chỉ cần phân đúng người, đúng việc, họ làm việc say sưa không biết chán.

Ngày đó, mọi người chỉ làm theo sự hiểu biết của mình chứ chưa có văn bản pháp luật nào, làm tất cả theo phương châm của Đảng là “Thiết thực, chính xác, hợp lòng dân”. Nhớ lại lúc ấy, có lẽ ông phải có sức khỏe lắm mới có thể cáng đáng được những công việc đầy ắp của một thành phố mới tiếp quản. Phải chăng, vì trách nhiệm trước Đảng, trước dân, vì vui mừng trước đất nước được giải phóng, được độc lập, tự do nên con người ấy mới có thể say sưa với công việc, quên đi mệt nhọc, quên cả đói no như thế?

Nhờ có những con người như đồng chí Phan Văn Trang, những con người luôn dặn nhau không được tham lam thứ gì, không vun vén về mình, xem danh dự là trên hết, nhắc nhau rằng cầm lấy dù một thứ gì nhỏ cũng bôi lem cả một đời, phủi sạch công lao của chính mình, mà chẳng bao lâu đã có thể đưa TP. Biên Hòa đi vào trật tự, đưa cuộc sống đi vào nề nếp, để có được TP. Biên Hòa như ngày hôm nay.

Bảo Phương/KD&PL