Tuần qua, Tòa soạn nhận được thư bạn đọc ở quận 10, thành phố Hồ Chí Minh. Nội dung thư, bạn đọc hỏi:

“Tôi có mối quan hệ quen biết với vợ chồng P. và L. Hai vợ chồng này có tiệm may quần áo. Tháng 12/2014, L. đến nhà tôi hỏi vay 700.000.000 đồng nói là cần vốn mua vải để may hàng Tết. Tin lời, tôi cho vay có làm hợp đồng vay mượn, với mức lãi suất là 1%/ tháng, thời hạn trả nợ trong thỏa thuận là 6 tháng kể từ ngày 12/2014 đến 05/2014. Tôi đã nhận được 3 tháng tiền lãi. Sau đó, do không liên lạc được nên tôi đến nhà họ để tìm hiểu thì mới biết được vợ chồng P., L. đã dọn đi từ nơi khác. Tôi đã tìm nhưng không gặp nên làm đơn tố cáo vợ chồng này gửi Công an quận T., nơi họ ở trước khi bỏ trốn đã thuê mở tiệm may và ăn ở tại đó nhưng Công an quận T. trả lại đơn vì cho rằng đây là vụ việc dân sự. Xin tòa soạn cho biết, hành vi của vợ chồng P., L. có phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản không?”

(*) Tên nhân vật đã được thay đổi.

Toi lam dung tin nhiem chiem doat tai san cua nguoi khac - Anh 1

Trả lời có tính chất tham khảo

Theo quy định tại Điều 140 của Bộ luật Hình sự thì người nào có một trong các hành vi sau: chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

Thứ nhất, vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

Thứ hai, vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

Nếu lạm dụng tín nhiệm để chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên thì sẽ bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân (theo quy định tại Khoản 4 Điều 140 của Bộ luật Hình sự).

Đối chiếu quy định nêu trên với trường hợp mà bạn nêu thì vợ chồng P. và L. có được tài sản của bạn bằng hợp đồng vay tiền. Sau khi có được tài sản, nếu vợ chồng P. và L. bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản thì mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Thông thường, hành vi bỏ trốn được xác định là hành vi cố tình trốn tránh người cho vay, làm cho chủ nợ không thể liên lạc được với người vay. Trường hợp mà bạn nêu, chúng tôi cho rằng, hành vi của vợ chồng P. và L. đã đủ dấu hiệu để cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 140 của Bộ luật Hình sự.

Do vậy, vụ việc này có dấu hiệu của tội phạm nên trên cơ sở đơn tố giác của bạn, cơ quan điều tra phải có trách nhiệm kiểm tra, xác minh nguồn tin và quyết định việc khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự (Khoản 2 Điều 103 của Bộ luật Tố tụng Hình sự). Cùng với đơn tố cáo hành vi vi phạm của vợ chồng P. và L., bạn cần cung cấp các tài liệu, chứng cứ liên quan, đặc biệt là cung cấp các thông tin liên quan đến hợp đồng vay và việc bỏ trốn của vợ chồng P. và L. cho cơ quan công an.

Luật gia ĐỖ MINH CHÁNH/KD&PL