Trong lúc ngân sách nhà nước khó khăn, các nguồn lực xã hội eo hẹp thì càng phải sử dụng các nguồn lực một cách hiệu quả nhất. Và như vậy thì phải làm rõ Nhà nước đang nắm giữ bao nhiêu nguồn lực và sử dụng chúng như thế nào?

Tieu tien nha nuoc kem hieu qua - co trach nhiem cua Quoc hoi - Anh 1

Mỗi năm ngân sách phải chi khoảng 15.000 tỉ đồng “nuôi” xe công, chưa kể phải mua xe mới. Trong ảnh: Xe trưng bày tại một cuộc triển lãm. Ảnh: HÙNG LÊ

Ngày 1-10, Bộ Tài chính thực hiện việc khoán xe công cho các thứ trưởng.

Ngay sáng 1-10 và nhiều ngày sau đó, việc các thứ trưởng đi làm bằng phương tiện gì bị cánh phóng viên quây chặt. Họ chụp ảnh, quay video và phát trực tiếp lên báo điện tử.

Sự quan tâm của báo chí cũng chính là sự quan tâm của người dân. Việt Nam thuộc loại quốc gia có xe công nhiều nhất thế giới. Theo Cục Quản lý công sản, hiện nay cả nước có gần 40.000 xe công. Với chi phí cho mỗi xe trung bình 320 triệu đồng/năm nên ngân sách phải chi khoảng 13.000 tỉ đồng/năm “nuôi” xe công, chưa kể phải mua xe mới.

Cho dù mới chỉ thành công trong việc “khoán xe công” trong nội bộ Bộ Tài chính, nhưng đó là tín hiệu tốt, khi mà yêu cầu tiết kiệm ngân sách nhà nước, quản lý tốt hơn tài sản công đang được đặt ra một cách cấp thiết.

Nhà nước đang nắm 800 tỉ đô la?

Tài sản công, theo định nghĩa trong dự thảo Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước (sửa đổi), là tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý, bao gồm: 1) tài sản công phục vụ hoạt động quản lý, cung cấp dịch vụ công tại các cơ quan, tổ chức, đơn vị; 2) tài sản kết cấu hạ tầng phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng; 3) tài sản công phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp; tài sản được xác lập quyền sở hữu thuộc về Nhà nước; 4) đất đai và các loại tài nguyên khác.

Tách bạch từng phần như trên cho thấy tài sản công đang có giá trị rất cao.

Chẳng hạn, tổng tài sản của các doanh nghiệp do Nhà nước giữ trên 50% cổ phần vẫn ở mức rất cao, đạt khoảng 7,9 triệu tỉ đồng vào năm 2015 (tương đương 365 tỉ đô la Mỹ, bằng 188% GDP, và bằng 33,4% tổng tài sản toàn bộ khu vực doanh nghiệp), theo đề án kế hoạch tái cơ cấu nền kinh tế giai đoạn 2016-2020 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

Một con số tương tự: 652 doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ có tổng tài sản là 3.043.687 tỉ đồng (khoảng 138 tỉ đô la Mỹ), theo báo cáo của Bộ Tài chính về hoạt động đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp trong phạm vi toàn quốc năm 2015 vừa gửi Quốc hội.

Theo Cơ sở dữ liệu quốc gia về tài sản nhà nước của Bộ Tài chính, từ đầu năm 2009 đến 31-7-2016, tài sản nhà nước gồm đất, nhà, ô tô, các tài sản khác có nguyên giá từ 500 triệu đồng trở lên trong khu vực hành chính nhà nước được đầu tư tăng thêm 94.285 tài sản với tổng giá trị gần 220.775 tỉ đồng. Tuy nhiên, báo cáo của Bộ Tài chính trình ra Quốc hội cho biết, tổng giá trị tài sản nhà nước đến cuối tháng 7-2016 là hơn 1 triệu tỉ đồng. Cục trưởng Cục Quản lý công sản Trần Đức Thắng giải thích: “Con số 1,04 triệu tỉ đồng này là bốn loại tài sản tại cơ quan sự nghiệp, chưa bao gồm hạ tầng, đất đai, hầm mỏ, tài nguyên khoáng sản”. Ông Thắng giải thích, do việc định giá tài sản nhà nước như hầm mỏ, hay hệ thống giao thông là rất khó khăn và tốn kém về thời gian và công sức, nên đến nay Nhà nước chưa thể thực hiện được.

Những dữ liệu trên đây chỉ là một phần trong tính toán của các cơ quan nhà nước. Trong khi đó, theo Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, trừ các hạng mục như hầm mỏ, hạ tầng giao thông... thì tài sản nhà nước vào khoảng 400 tỉ đô la Mỹ. Như vậy, CIEM đặt câu hỏi, phải chăng Nhà nước đang nắm giữ phần lớn tài sản quốc gia?

Câu hỏi này được trả lời trong tờ trình về dự án Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước (sửa đổi) do Bộ trưởng Tài chính trình ra Quốc hội: Theo nghiên cứu của các chuyên gia quốc tế, tổng giá trị tài sản công của mỗi quốc gia thông thường có quy mô bằng bốn lần GDP của quốc gia đó. Điều đó có nghĩa, giá trị tài sản công của Việt Nam ít nhất là 800 tỉ đô la Mỹ. Tuy nhiên, con số đó chưa phải là giới hạn. Ông Dũng thừa nhận trong báo cáo: “Ở Việt Nam, tổng giá trị tài sản công còn có thể lớn hơn”.

Tài sản công thất thoát

Dù chỉ là ước tính, và chưa có điều tra cụ thể, những con số trên cho thấy khu vực nhà nước đang nắm giữ phần lớn tài sản quốc gia. Làm sao để chuyển những tài sản đó thành nguồn vốn hiệu quả cho nền kinh tế đang là vấn đề rất cấp bách.

Bộ trưởng Công Thương Trần Tuấn Anh, trong lần trả lời chất vấn ở Quốc hội cuối tuần trước, thừa nhận bên cạnh năm dự án Gang thép Thái Nguyên, Xơ sợi Đình Vũ, Bột giấy Phương Nam, Đạm Ninh Bình, Nguyên liệu sinh học Dung Quất tiêu tốn của Nhà nước trên 30.000 tỉ đồng, còn có rất nhiều các dự án tương tự khác. Thật đáng tiếc, trách nhiệm cho những dự án này đến nay vẫn chưa quy ra được cho ai.

Trong bài phát biểu ở phiên họp Quốc hội tuần trước, đại biểu Dương Trung Quốc đã gắn trách nhiệm của Quốc hội, bên cạnh trách nhiệm của Chính phủ về quản lý tài sản công. Ông nói: “Đi cùng với báo cáo của Chính phủ, chúng ta đã biết đến những bằng chứng của các công trình đắp chiếu làm thất thoát tài sản của nhân dân có thể định lượng được hàng ngàn, hàng chục ngàn tỉ đồng... Những thông tin về dự án Nghi Sơn mà hôm qua đại biểu Quốc hội đưa ra khiến mọi người giật mình nghĩ đến những thất thoát được báo trước trong tương lai”. Ông khẳng định: “Chắc chắn công tác lập pháp và giám sát của Quốc hội góp phần vào những sai phạm, hạn chế hiệu quả hoạt động của Chính phủ, nợ công chồng chất, tài sản hư hao, tham nhũng không kiểm soát là trách nhiệm của Chính phủ nhưng cũng có một phần của Quốc hội”.