Nếu như từ 2002 - 2013, đền Hoàng Mười chỉ nộp về ngân sách trung bình 1,5 tỉ/năm, thì sau khi đổi quản lý, số tiền lên tới 11 tỉ/năm.

Theo thông tin được ông Nguyễn Đình Tường (người chống tiêu cực trong vụ Chở tiền công đức đi đâu) cho biết, thì hiện đền ông Hoàng Mười (xã Hưng Thịnh, huyện Hưng Nguyên, Nghệ An) có 14 hòm công đức đặt tại 13 cung và nơi ban quản lý làm việc. Ngày bình thường cứ cuối ngày là đếm tiền công đức và nộp kho bạc nhà nước ngay.

Riêng những ngày chuẩn bị giỗ ông Hoàng Mười (10/10 âm lịch) có rất đông du khách thập phương về thăm viếng, hầu đồng nên không thể đếm tiền trong ngày.

Các hòm công đức đầy tiền thì ban quản lý cho tiền vào vị trí bảo vệ nghiêm ngặt rồi niêm phong hôm sau đếm.

Sau sự cố Chở tiền công đức đi đâu xảy ra tại đền, các cơ quan chức năng của huyện Hưng Nguyên (Nghệ An) đã vào cuộc nhằm chấn chỉnh lại ban quản lý đền, bảo vệ nguồn thu từ tiền công đức hàng năm.

Theo đó, huyện Hưng Nguyên trực tiếp quản lý thay vì xã Hưng Thịnh như trước đây. Ban quản lý mới có phó trưởng Phòng văn hóa huyện, một phó chủ tịch xã và ông Tường.

Tien cong duc den Hoang Muoi tang 10 lan - Anh 1

Đền ông Hoàng Mười - Nghệ An

Sau khi đền có nguồn tiền, UBND tỉnh tiến hành quy hoạch tôn tạo đền, mở rộng khu dịch vụ (bến bãi đậu xe, ki ốt, xây dựng đường xá phục vụ du khách). Hiện ban quản lý đã xây mới khu thượng điện (cung ông Hoàng Mười), trị giá trên 10 tỉ đồng, xây mới cổng đền phía ngoài cổng đền chính để đón du khách thập phương.

Trước đó, chính bản thân ông Tường phát hiện ra việc Ban quản lý đền cho người chở tiền ra ngoài đếm mà không kiểm soát.

Trao đổi với báo chí, ông Lê Văn Hùng - chủ tịch UBND xã Hưng Thịnh - thừa nhận vụ việc nêu trên nhưng nói: "Đó là tiền rót dầu, tiền lẻ từ năm 2000 đến nay. Còn tiền trong thùng công đức đều có hai khóa. Một chìa khóa do cán bộ tài chính của xã giữ. Một chìa do ông Trương Văn Thái - trưởng ban quản lý đền giữ. Khi nào đền thông báo đến mở thùng công đức thì chúng tôi cử cán bộ tài chính đi. Trước khi mở có hội đồng chứng kiến".

Trong khi đó, phản ảnh của ông Tường lại khác hẳn: "Cán bộ tài chính xã không giữ chìa khóa. Hai chìa khóa do ông Thái và ông Nguyễn Bá Đệ, kế toán của đền, giữ. Khi thùng công đức đầy tiền thì ông Thái và ông Đệ mở mà không cần có một hội đồng nào, thậm chí có lúc một mình ông Thái tự ý mở.

Bảy bao tiền được chở đi thuê đếm được gom từ ba loại. Loại 1, sau khi mở thùng công đức, ông Thái lấy tiền mệnh số lớn cất đi, còn tiền lẻ bỏ vào bao tải. Loại 2, là tiền hành sai. Loại 3 là tiền rót dầu trong những thùng nhỏ đặt tại các cung".

Câu chuyện về việc không quản lý được tiền công đức tại đền chùa cũng từng xảy ra ở rất nhiều các đền, chùa khác trên cả nước.

Trên thực tế, chuyện đặt hòm công đức và sử dụng tiền công đức sao cho hợp lý đã được bàn nhiều.

Năm 2010, Bộ VHTT&DL đã ban hành Chỉ thị 16/CT-BVHTTDL về tăng cường công tác chỉ đạo quản lý hoạt động văn hóa, tín ngưỡng tại di tích, trong đó quy định rõ: “Mỗi di tích chỉ nên đặt một hoặc tối đa ba hòm công đức”.

Dẫu vậy, thực tế cũng cho thấy hầu như không một di tích nào thực hiện qui định này. Không những hòm công đức được đặt nhiều quá mức so với qui định, mà nhiều nơi để tồn tại tình trạng tù mù tiền công đức kéo dài trong nhiều năm.

Đưa ra quan điểm vấn đề này, PGS.TS Lương Hồng Quang- Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu văn hóa nghệ thuật Việt Nam đã đánh giá: "Hiện nay ai cũng biết số lượng tiền công đức rất lớn nhưng không ai nắm được, nên cũng không biết việc chia sẻ lợi ích được thực hiện như thế nào.

Cũng từ đó mà xảy ra hiện tượng lợi dụng công đức để tư lợi, xuất hiện rất nhiều đền phủ tư nhân hay các “công ty” tôn giáo tâm linh. Hệ thống đền phủ tư nhân không ai đăng ký, không bị quản lý. Ai cũng biết nó có tồn tại nhưng không ai kiểm soát được nó cả".

Cũng theo ông Quang, đứng về mặt quản lý Nhà nước đã có Nghị định, Thông tư liên bộ, có Chỉ thị của Ban Bí thư và Công điện của Thủ tướng, yêu cầu phải công khai, minh bạch trong việc sử dụng tiền công đức. Song mô hình quản lý thế nào là thích hợp vẫn còn bỏ ngỏ.

Do có rất nhiều loại hình di tích với nhiều cơ chế quản lý khác nhau nên việc có một mô hình thống nhất là rất khó, song dù mô hình nào thì cũng phải công khai minh bạch, hướng vào mục tiêu bảo tồn và phát huy di sản”.

Sơn Ca (Tổng hợp)