Cái làng nhỏ của tôi, mấy hôm nay vẫn còn bàn ra tán vào chuyện bà Khỏe mất. Làng trên, xóm dưới, con cháu ai cũng thương tiếc cho bà hiền lành, phúc hậu.

Bà cụ cũng đã ngót nghét 75 tuổi, ra đi trong thanh thản. Có lẽ, người dằn vặt, ân hận nhất là ông Khỏe - chồng bà. Lúc lâm chung, bà chẳng dặn dò được gì với con cháu, ngoài việc: “Mẹ còn nợ bố 5 lạng thịt…”.

Ông bà lấy nhau đã được hơn 50 năm. Ngần ấy năm, người ta tôn vinh gọi là đám cưới vàng. Vàng bạc đâu không biết, chỉ biết từng ấy năm lấy nhau là hơn 20 năm bà phải vò võ nuôi con một mình để ông yên tâm ra chiến trường, chiến đấu bảo vệ Tổ quốc.

Bố mẹ ngày một già yếu, đàn con vẫn còn thơ dại một tay bà vất vả chăm sóc, lo toan. Ngày ông trở về, bà vỡ òa trong hạnh phúc, bà không cần ông mang huân chương này huân chương nọ, chỉ cần nước nhà thống nhất, ông lành lặn trở về để bà có chỗ dựa tinh thần, các con có hơi ấm của cha.

5 đứa con (3 trai, 2 gái) của ông bà, không phụ sự hy sinh tần tảo của mẹ, đứa nào cũng thành đạt, đứa là giáo viên, đứa thì buôn bán ở chợ huyện, đứa thoát ly trên thành phố... Năm chúng về thăm cha mẹ đôi lần. Còn ông bà vẫn muốn ở dưới quê chăm sóc hương hỏa tổ tiên, có làng xóm, ruộng đồng thân quen bầu bạn.

Ông Khỏe cũng tự hào lắm, vợ mình đảm đang, chịu thương chịu khó, lại chăm sóc ông chu đáo. Mỗi lần nhâm nhi chén trà với mấy ông bạn già cùng xóm là ông cười hể hả khoe: “Đấy các ông xem, tôi cầu lông cầu lá, chơi cờ tướng, hội thơ ca hò vè của làng chỗ nào cũng có mặt, bận bịu tối ngày… Thế mà bà ấy chẳng kêu ca, phàn nàn nửa lời, vẫn tham cấy 2 sào ruộng, ở nhà dọn dẹp, cơm nước sớm tối, khổ thân! Bà nhà tôi cứ gọi là nhất!”.

Nghe ông nói, ai cũng nghĩ ông thương và cảm thông cho những vất vả hy sinh của bà. Nhưng “ở trong chăn mới biết chăn có rận”, bà chăm ông từng ly, từng tý vì nghĩ bù đắp lại cho ông những năm tháng đi bộ đội xa nhà. Còn ông, lại coi đó là nghĩa vụ đương nhiên mà người vợ như bà phải làm. Bà chẳng dám nói cho con cái biết vì sợ chúng lo lắng, làng xóm thì bà tuyệt nhiên không.

Thực ra, mấy năm nay ở chung mái nhà nhưng ông bà như ly thân. Từ ngày, có chút chế độ lương hưu ông oai lắm, mọi chi tiêu trong nhà ông kiểm soát hết, có vay, có mượn sòng phẳng như hai người xa lạ. Tưởng có thêm đồng ra, đồng vào bà sẽ đỡ khổ, nào ngờ ông lại coi thường bà, coi bà như người ăn bám.

Có lần, mua tý thức ăn ông nói với bà: “Bà ăn đi, đây là tiền Nhà nước trả cho xương máu của tôi đấy”. Chẳng biết ông đùa hay thật, nhưng những lúc ấy bà nuốt sao nổi, chỉ biết lặng im, tê tái cả cõi lòng. Bà cũng không ngờ, về già chỉ vì mình không có lương lậu lại làm tình cảm vợ chồng xa cách. Còn ông, có đồng lương hưu lại thay tính đổi nết nhanh đến vậy.

Nhiều khi muốn lên ở với các con cho khuây khỏa, nhưng bà lại thương ông ở nhà một mình già cả đêm hôm nhỡ ra có chuyện gì. Thương ông, sợ các con lo lắng nên bà cứ cam chịu như thế nhiều năm nay mà không ai hay biết.

Hôm có người bà con tạt qua chơi không báo trước, ông đi ăn cỗ làng bên, bà lấy tạm 5 lạng thịt của ông để trong tủ, rang ăn. Hai bà bạn cứ râm ran kể chuyện ngày xưa, chuyện cháu con đến hết chiều… lâu lắm rồi bà mới vui như thế, không ngờ đấy là nụ cười cuối đời của bà.

Đêm đó không may bà bị cảm đột ngột. Con cháu hết lòng chữa chạy, túc trực mấy ngày ở bệnh viện. Nhưng ông trời chỉ cho bà sống đến đây thôi, bà cũng toại nguyện. Trước lúc lâm chung bà chỉ kịp dặn con cháu: “Ở lại chăm sóc bố, mẹ còn nợ bố 5 lạng thịt”.

Những giọt nước mắt muộn màng lăn dài trên khuôn mặt ông. Giờ ông mới nhận ra, bao năm qua ông sống thật ích kỉ, chỉ vì chút tiền lương hưu mà ông đánh mất đi những thứ quý giá: Sự kính trọng của con cháu, bà con xóm làng; tư cách của một người lính và quan trọng hơn cả là mất đi người vợ không bao giờ lấy lại được.

Kiều Chang