Hu là tên một bản cũ thuộc địa phận thôn A5, xã Hồng Vân, A Lưới, Thừa Thiên Huế. Do địa thế nằm lọt thỏm trong thung lũng giữa đại ngàn Trường Sơn, nên từ lâu lắm, đồng bào dân tộc Pa Cô ở bản Hu sống biệt lập như một ốc đảo giữa rừng. Thế nhưng, vượt lên tất cả những khó khăn, bằng sự cần cù chịu khó của con người, đất cằn sỏi đá đã phải nhường chỗ cho màu xanh nương rẫy...

Đường lên thung Hu.

Còn nhớ, hồi cuối năm 2011, nhân chuyến công tác lên huyện vùng cao A Lưới, tôi đã thất bại trong hành trình đến với bản Hu, bởi khi lội rừng chưa được một cây số, đã gặp cơn mưa tầm tã, trời tối âm u không tài nào đi được. Lần này, sau gần 3 năm, tôi đã may mắn thực hiện được mục tiêu của mình là, phải đến được nơi mà người ta vẫn gọi là "ốc đảo" giữa vùng biên giới Việt - Lào, để được "thực mục sở thị" đồng bào Pa Cô ở đây mưu sinh như thế nào.

Hai giờ chiều, từ trung tâm xã biên giới Hồng Vân, đi về phía đèo Pê Ke chừng 4km đường Hồ Chí Minh, chúng tôi có mặt tại chân núi A Nung để bắt đầu cuộc hành trình vào "ốc đảo". Chàng trai Hồ Văn Phê, người dân tộc Pa Cô, nhà ở gần UBND xã Hồng Vân, người tình nguyện dẫn đường chúng tôi cho biết, phải mất gần 4 giờ lội rừng mới đến được bản Hu. "Đường lên Hu có nhiều đoạn chỉ đủ cho một người đi, một bên đồi cao, một bên là hố thẳm. Các nhà báo phải cẩn thận, nếu không may bị sẩy chân thì coi như là... về với Giàng đó" - Hồ Văn Phê cảnh báo trước khi lên đường.

Vượt đường dốc được độ nửa giờ, chúng tôi bắt gặp một con suối nước chảy cuồn cuộn, trông rất hung dữ như thể muốn nuốt chửng những ai muốn băng qua. Đang rón rén lần theo từng bước chân của Phê thì trời bỗng đổ mưa, con đường vào bản Hu vốn đã nhỏ hẹp, lúc này như bị nước xé toạc thành những hố, rãnh khiến càng khó đi hơn. "Nhanh chân lên, kẻo không thấy đường lên bản Hu mô..." - Chàng trai Pa Cô hối thúc.

Tiếp tục ngược dốc khoảng hơn hai giờ nữa, theo hướng tay Phê chỉ, chúng tôi thấy mấy nóc nhà hiện ra lờ mờ trong mây núi, tưởng chừng như với tay là "chạm" tới, nhưng Phê cho biết mới đi được già nửa đoạn đường. Thật may, cơn mưa rừng xối xả một lúc rồi thưa dần nên hành trình của chúng tôi không bị ngắt quãng. Nhưng lúc này lại xuất hiện một nguy cơ mới: Những con vắt đói khát bám chặt vào đôi chân của tôi và anh bạn đồng nghiệp, máu chảy loang lổ tự lúc nào không hay.

Thật may, Phê là người đi rừng chuyên nghiệp. Ngay sau khi phát hiện bọn vắt tấn công chúng tôi, nhanh như sóc, Phê lẩn vào vạt rừng bên sườn núi và sau vài phút, trở ra với mấy đọt lá rừng trên tay. "Ở vùng này nhiều vắt lắm! Loài này thường bám lên chân rồi chui vào bên trong người hút máu, đến khi nào cái bụng phình to mới chịu nhả ra. Đây là loại lá rừng, tên là gì thì không biết, nhưng người Pa Cô thường dùng để trị vắt. Chỉ cần nhai dập ra rồi quệt vào nơi vắt bám là chúng sẽ phải rời ra..." - Phê giải thích.

Đêm bản Hu thật vắng lặng và lạnh lẽo, chỉ có tiếng côn trùng rả rích, tịnh không một bóng người qua lại. "Thường thì 7 giờ tối, mình đã đóng cửa ngủ vì chẳng còn việc gì để làm. Nhưng hôm nay có khách quý nên phải thức khuya uống rượu cho vui mới được..." - Ông Hồ Tung, chủ một ngôi nhà gỗ nhỏ, vừa gẩy lửa để nướng ít khô nai làm "mồi" nhắm rượu, vừa nói với chúng tôi.

Ngồi quanh bếp lửa, nhâm nhi ly rượu sắn trong đêm giữa đại ngàn Trường Sơn, chúng tôi được nghe kể về "sự tích" bản Hu cùng câu chuyện mưu sinh của những con người bao năm sống lặng lẽ trong rừng sâu này. Ông Hồ Tung bảo, Hu thực ra là một bản "vệ tinh" thuộc thôn A5. Người ta hay gọi là thung Hu, vì bản nằm gọn trong thung lũng khá lớn của một bên sườn dãy núi A Nung.

Ở đây, dù là nơi sơn cùng thủy tận, nhưng "nhờ Giàng thương", người Pa Cô rất khỏe mạnh, ít bệnh tật, đặc biệt ít khi bị dịch bệnh "sờ" tới. Con cái sinh ra, đứa nào cũng lớn, khỏe như vâm. "Đất ở đây hiền lắm, nếu không thì làm sao sống nổi" - Ông Tung nói rồi "khà" một tiếng sảng khoái sau ly rượu dốc ngược "trăm phần trăm".

Theo ông Tung, không biết cái tên bản Hu có từ bao giờ, nhưng nghe người già kể lại thì từ thời người Pháp còn ở Huế, thỉnh thoảng quan quân lên A Lưới săn hổ, săn voi đã có người Pa Cô sống ở đây. Trong chiến tranh chống Mỹ, do nằm ngay cạnh đường mòn Hồ Chí Minh, bom đạn ác liệt, người Pa Cô ở bản Hu sơ tán vào rừng để sinh sống. Hòa bình lập lại, một số người kéo nhau về lại thung lũng nơi cha ông bám trụ đã bao năm để phát, đốt, cốt, trỉa.

Ở bản Hu trước đây, trẻ con mới sáu, bảy tuổi đã biết cầm dao theo cha vào rừng lấy củi. Do sống hoàn toàn cách biệt với thế giới bên ngoài, nên sinh hoạt hoàn toàn tự cung tự cấp, cho đến trước những năm 90 của thế kỷ 20 người dân vẫn không cần biết đến... tiền. "Cơm ăn, đồng bào mình làm từ lúa rẫy. Còn thức ăn, mình săn bắn thú trên rừng hay bắt cá dưới suối..." - Anh Hồ A San, một trong những người dân "nguyên gốc" ở bản Hu, nay đã chuyển về bản A5 sinh sống, nhưng vẫn xem hạt bắp, củ sắn được làm ra ở nơi đây là nguồn sống chính, nói.

Nghe anh San giãi bày với khách, ông Hồ Tung cho chúng tôi biết, đường sá đi lại khó khăn, từ bản Hu xuống đến thôn A5, người khỏe cũng phải mất gần nửa buổi mới đến nơi, nên dăm bữa, nửa tháng, những người "bám trụ" ở đây mới ra khỏi rừng để đổi ngô, sắn lấy các nhu yếu phẩm cần thiết. Thương bà con vất vả, nhiều lần chính quyền động viên xuống vùng dưới để sinh sống, nhưng đồng bào vẫn không đồng ý. "Dân bản sống quen ở đây rồi nên không thích đi" - Ông Hồ Tung bảo vậy.

Chị Kăn Chúc nổi lửa chuẩn bị cho bữa cơm tối.

Cũng theo ông Tung, sau một thời gian dài vận động, phần lớn các hộ gia đình ở bản Hu đã nghe theo cán bộ về thôn A5 định cư. Yên ấm nơi vùng đất mới, nhưng nhiều hộ vẫn xem bản cũ là "căn cứ địa" để trồng thêm ngô, sắn. "Đất rẫy ở đây rất màu mỡ nên nhiều người đã ra định cư ngoài bản A5 tiếc lắm. Họ rủ nhau cùng vào cuốc rẫy trồng sắn, chăm ngô, khoảng một tuần rồi trở ra. Nhiều nhà đông nhân lực có cả vài héc-ta đất sản xuất theo kiểu trang trại, điển hình là gia đình chị Kăn Chúc, đã trở nên khá giả nhờ phát triển kinh tế vườn-rừng ở thung Hu. Với hơn 3ha đất rẫy, bằng sự chịu thương, chịu khó, hai vợ chồng Kăn Chúc trồng xen cây sắn, khoai, chuối để chăn nuôi trâu, bò. Ngoài ra, họ còn trồng thêm mía và hoa màu, mỗi năm cho thu nhập từ 30-50 triệu đồng" - Ông Tung kể.

Một đêm, một ngày khám phá cuộc sống bà con ở thung Hu, tuyệt nhiên chúng tôi không thấy một triền đồi, vạt núi nào có dấu hiệu rừng bị đốt để làm rẫy. Về "sự lạ" này, anh Hồ A San bảo, từ khi người bản Hu được nhập hộ khẩu vào thôn A5, đời sống của đồng bào Pa Cô đã được cải thiện đáng kể. Bây giờ, nhà nào cũng có ti vi để xem, những ánh đèn dầu leo lắt hết đời này qua đời khác được thay bằng ánh điện sáng trưng. Vì thế mà ý thức của người dân đã có bước chuyển mới, trong đó có việc tự giác bảo vệ rừng.

Vào canh tác ở thung Hu, tất cả các hộ đều thực hiện cam kết không đốt phá rừng. Đấy không chỉ là cam kết suông mà đã trở thành ý thức của bà con. "Đồng bào không đốt rẫy vì đã hứa với cán bộ rồi. Mùa khô, còn phải chủ động phòng cháy, chữa cháy nữa..." - Anh San nói.

Có lẽ, vì "lời hứa" của anh Hồ A San cùng những người bám trụ ở "căn cứ địa" thung Hu mà những cánh rừng trên vùng biên giới này hầu như chưa bị tác động bởi bàn tay khai phá của con người. Cuối hè, chớm thu, màu tím của hoa sim phủ kín những con đường mòn dẫn vào các khu rừng nguyên sinh. Bên những con suối ngày đêm tung bọt trắng xóa, róc rách chảy, mang nguồn sống về hạ nguồn, là những cây cổ thụ với vô số giò phong lan tự nhiên treo vắt. Nó như muốn minh chứng sức sống của đại ngàn và sự bền bỉ, can trường của những con người đang ngày đêm vượt khó tạo dựng cuộc sống nơi biên giới...

Nguyễn Hữu Tuấn