Thời gian qua, việc triển khai chuỗi cung ứng thực phẩm an toàn được đẩy mạnh trên địa bàn TP. Hà Nội, giúp người tiêu dùng có thêm nhiều cơ hội tiếp cận, sử dụng thực phẩm an toàn. Tuy nhiên, để có thể mở rộng cũng như đảm bảo sự ổn định, bền vững của các chuỗi này, cần sự chung tay ở cả phía DN lẫn cơ quan quản lý các địa phương.

Thuc day chuoi cung ung thuc pham sach 'mau lon' - Anh 1

Hiện, tại Hà Nội đã có khoảng 1.800 mặt hàng nông sản, thực phẩm sạch của các địa phương bày bán tại các điểm phân phối. Ảnh: Nguyễn Thanh.

Hình thành hàng loạt chuỗi

Bà Vũ Thị Hậu, Phó Tổng giám đốc Công ty CP Nhất Nam (chuỗi siêu thị Fivimart): Đề nghị các địa phương giám sát chặt chẽ đối với các hợp tác xã, cơ sở sản xuất, nhằm giúp DN yên tâm hơn trong bán hàng. Thậm chí, các địa phương có thể xây dựng các tổ giám sát chất lượng sản phẩm trước khi đưa ra thị trường.

Theo Sở NN&PTNT TP. Hà Nội: Sau gần 1 năm thực hiện, chuỗi cung cấp rau, thịt an toàn cho người dân Thủ đô với sự tham gia của 21 tỉnh, thành phố trên cả nước đã thu nhiều kết quả tích cực. Từ chỗ chỉ có 180 dòng sản phẩm, đến nay tại Hà Nội đã có khoảng 1.800 mặt hàng nông sản, thực phẩm sạch của các địa phương được bày bán ở 142 điểm phân phối, với sự tham gia của 52 DN.

Cụ thể, Hà Nội đã hình thành được 3 chuỗi tiêu thụ rau hoạt động hiệu quả cung cấp cho Hà Nội và các khu công nghiệp của các tỉnh, thành phố lân cận như: Chuỗi tiêu thụ rau hữu cơ của Công ty Tâm Đạt, Công ty Home foor, Công ty Nông sản ngon, Công ty Vina Gap; chuỗi tiêu thụ rau của Công ty CP XNK Nông lâm sản thực phẩm Đông Nam Á; chuỗi tiêu thụ rau của Công ty TNHH Aki Việt Nam. Bên cạnh đó, các chuỗi liên kết sản xuất, tiêu thụ trong chăn nuôi được xây dựng, hiện cũng đang cung cấp ổn định cho người tiêu dùng thành phố như: Chuỗi liên kết chăn nuôi tiêu thụ gà đồi Sóc Sơn, cung cấp cho thị trường trên 0,33 tấn/ngày; chuỗi liên kết chăn nuôi tiêu thụ thịt lợn sinh học Liên Việt (Phúc Thọ); chuỗi cửa hàng thực phẩm sạch 3F, mỗi ngày cung cấp và tiêu thụ đạt 2,74 tấn thịt lợn; 2,05 tấn thịt gà và 100.000 quả trứng gà...

Theo ông Chu Phú Mỹ, Giám đốc Sở NN&PTNT Hà Nội: Thời gian qua, Sở NN&PTNT Hà Nội cũng đã phối hợp với Sở NN&PTNT các tỉnh chỉ đạo các đơn vị thuộc Sở phối hợp triển khai xây dựng các chuỗi nông sản hàng hóa cung cấp cho TP. Hà Nội như: Tỉnh Sơn La hình thành một số chuỗi liên kết sản xuất, cung ứng rau an toàn đã được cấp giấy chứng nhận VietGAP đạt sản lượng 3.361 tấn, chuỗi sản xuất, cung ứng cam đạt sản lượng 95 tấn/năm… Tỉnh Quảng Ninh có tổng số 12 cơ sở cung cấp các sản phẩm nông sản vào TP. Hà Nội trên 1.000 tấn/năm chả mực, miến dong, thịt lợn, nước mắm, thủy sản, nấm linh chi…

Suốt 9 tháng đầu năm, công tác kiểm soát các nông sản thực phẩm qua chương trình kết nối tiêu thụ vào Hà Nội như chuỗi rau được sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP của tỉnh Hòa Bình, Sơn La với hệ thống cửa hàng, siêu thị BigGreen, Fivimart... được làm khá tốt. Đến nay, các chuỗi vẫn duy trì và không ngừng phát triển về số lượng tiêu thụ sản phẩm cũng như mở rộng các chủng loại hàng hóa.

Tăng hỗ trợ cho doanh nghiệp

Mặc dù được đánh giá đã làm khá tốt việc xây dựng, vận hành các chuỗi cung ứng rau, thịt an toàn, song theo ông Mỹ hiện còn tồn tại không ít khó khăn. Đó là một số Sở NN&PTNT các tỉnh, thành phố chưa xây dựng được kế hoạch chương trình hợp tác đối với từng lĩnh vực hàng năm; chưa chủ động cung cấp thông tin nông sản, sản lượng để các cơ quan quản lý, DN của Hà Nội xây dựng kế hoạch kinh doanh trong năm, dẫn tới còn thụ động trong quá trình thực hiện.

Ngoài ra, một số sản phẩm nông, lâm, thủy sản tiêu thụ tại các điểm kinh doanh trong mô hình chuỗi chưa có nhãn hiệu, thông tin nhận diện, gây gián đoạn cho công tác kiểm tra, giám sát theo chuỗi an toàn thực phẩm. Một số chợ đầu mối chưa đáp ứng được yêu cầu về bố trí, kết cấu, ngăn cách giữa các khu vực, các hộ kinh doanh chưa đáp ứng được các yêu cầu về trang, thiết bị, dụng cụ tiếp xúc trực tiếp với sản phẩm... cũng như chưa thực hiện các quy định về yêu cầu truy xuất nguồn gốc sản phẩm.

Đứng từ góc độ DN tham gia chuỗi, bà Vũ Thị Hậu, Phó Tổng giám đốc Công ty CP Nhất Nam (chuỗi siêu thị Fivimart) cho biết: Để hàng hóa có thể đưa vào hệ thống bán lẻ, trước khi ký hợp đồng, DN thường đến kiểm tra điều kiện sản xuất, tuy nhiên DN cũng không thể kiểm soát hết cả quá trình. Do vậy, DN đề nghị các địa phương giám sát chặt chẽ đối với các hợp tác xã, cơ sở sản xuất, nhằm giúp DN yên tâm hơn trong bán hàng. Thậm chí, các địa phương có thể xây dựng các tổ giám sát chất lượng sản phẩm trước khi đưa ra thị trường.

“Ngoài ra, Fivimart cũng mong muốn địa phương có chính sách hỗ trợ nông dân, hợp tác xã, các DN tại địa phương đầu tư nâng cấp khu sơ chế, giết mổ, phương tiện vận chuyển sản phẩm... để các đơn vị này có thể đủ điều kiện được đưa vào hệ thống bán lẻ của chúng tôi. Bởi thực tế, DN muốn kết nối, đưa hàng vào hệ thống bán lẻ của Fivimart hiện thiếu nhiều giấy tờ chứng nhận”, bà Hậu nói.

Xung quanh “câu chuyện”, làm thế nào để các chuỗi cung ứng sản phẩm nông sản an toàn có thể phát huy hiệu quả tốt và đảm bảo sự bền vững, ông Nguyễn Tiến Hưng, Giám đốc Công ty Thực phẩm sạch BigGreen Việt Nam góp ý: Không chỉ tăng cường hỗ trợ cho các cơ sở, DN ở những địa phương khác, đối với các DN trực tiếp tham gia chuỗi cung ứng tại “đầu ra” Hà Nội như BigGreen cũng mong muốn kéo dài sự hỗ trợ từ cơ quan quản lý, điển hình như hỗ trợ DN đối với chương trình truy xuất nguồn gốc sản phẩm sử dụng bộ mã Qrcode. Ngoài ra, việc hỗ trợ DN trong chứng nhận sản phẩm an toàn theo chuỗi cũng cần được hỗ trợ thêm, bởi đối với phân tích đa dư lượng một mẫu rau chi phí lên tới 7,5 triệu đồng. Thông thường một tháng DN phải phân tích 3 mẫu, nếu không được hỗ trợ, chi phí khá lớn. “Ở đây DN không mang tâm lý ỷ lại mà mong muốn kéo dài sự hỗ trợ trong khoảng vài năm nhằm tạo sự ổn định, tạo thói quen tiêu dùng cho người dân. Sau đó, dù không có hỗ trợ nữa, DN cũng có thể cân đối các yếu tố để tiếp tục duy trì hoạt động như bình thường”, ông Hưng nói.

Đứng từ góc độ quản lý, Sở NN&PTNT đề xuất, Bộ NN&PTNT, Bộ Công Thương nghiên cứu trình Chính phủ ban hành cơ chế chính sách đặc thù để hỗ trợ xây dựng chuỗi, các chính sách hỗ trợ vùng sản xuất, hỗ trợ các DN tham gia chuỗi nông sản để tạo ra sự liên kết giữa các địa phương với nhau nhằm tạo ra các sản phẩm hàng hóa có hàm lượng tri thức cao, đặc sản vùng miền đủ sức cạnh tranh, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ nội địa và hội nhập quốc tế. Các chính sách phải được tập trung đều ở các khâu sản xuất, sơ chế, chế biến và thương mại, tiêu thụ sản phẩm để động viên khuyến khích kịp thời cho các tác nhân tham gia phát triển chuỗi.

Nguyễn Thanh