Thu ngân sách nhà nước (NSNN) giai đoạn tới sẽ rất khó khăn, đòi hỏi sự nỗ lực rất lớn mới có thể hoàn thành. Trao đổi với ĐTTC, ông VÕ THÀNH HƯNG (ảnh), Vụ trưởng Vụ NSNN, Bộ Tài chính cho rằng rủi ro lớn nhất đến cân đối NS, đặc biệt thu NSNN là tăng trưởng kinh tế không đạt mục tiêu đề ra.

PHÓNG VIÊN: - Ông nhìn nhận thế nào về cân đối NSNN giai đoạn 2017-2020?

Điều quan tâm là sức cạnh tranh của nền kinh tế và doanh nghiệp có chịu nổi trong hội nhập hay không và điều này sẽ là những yếu tố tác động đến tăng trưởng kinh tế. Do đó đòi hỏi phải có sự đổi mới mô hình tăng trưởng để nâng cao sức cạnh tranh.

Ông VÕ THÀNH HƯNG: - Những năm qua, dù thu NSNN đều vượt dự toán nhưng có thể thấy thu NS Trung ương đã khó khăn hơn, đặc biệt thu từ dầu thô, xuất nhập khẩu có xu hướng giảm rất nhanh. Giai đoạn 2006-2010, tỷ trọng 2 khoản thu này chiếm 40% tổng thu NS, nhưng đến năm 2015 còn dưới 25%, dự kiến đến năm 2020 chỉ còn khoảng 14-15%. Nguyên nhân giảm nhanh do từ năm 2017 sản lượng khai thác dầu sẽ giảm. Cụ thể, năm 2016 khai thác dầu đạt 15 triệu tấn nhưng năm 2016 dự toán còn 12 triệu tấn. Cùng với đó, giá dầu thô thời gian tới theo dự toán ở mức 50USD/thùng. Quy mô NS tăng nhưng thu từ dầu thô không tăng nên tỷ trọng trong thu NS ngày càng giảm.

Trong khi đó, do Việt Nam tiếp tục hội nhập sâu rộng nên nguồn thu từ xuất nhập khẩu sẽ chủ yếu từ thuế giá trị gia tăng, tiêu thụ đặc biệt. Nguồn thu lớn thứ 3 là điều tiết của các địa phương về Trung ương, tăng theo tốc độ tăng NS thu nội địa nói chung. Giai đoạn 2006-2010, có 11 địa phương điều tiết về NS Trung ương; giai đoạn 2011-2016 có 13 địa phương, điều này đồng nghĩa còn 50 địa phương còn lại vẫn phải nhận trợ cấp từ Trung ương. Vì thế, khó khăn thời gian tới là cân đối NS Trung ương do không thể bội chi được nữa (không quá 4% GDP), như năm 2017 Chính phủ trình Quốc hội 3,5%, giới hạn trần nợ công vẫn là 65%...

Thu ngan sach: Rui ro nhat tang truong khong dat - Anh 1

- Thu NS khó khăn, vậy cách nào để thu nội địa bù được các khoản giảm thu từ dầu thô, xuất nhập khẩu và cả vấn đề chi NS sẽ ra sao thưa ông?

- Giải pháp duy nhất và cũng là căn cơ, lâu dài là cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh để phát triển doanh nghiệp. Chúng ta đang có 500.000-600.000 doanh nghiệp và đang phấn đấu có 1 triệu doanh nghiệp hoạt động hiệu quả vào năm 2020. Đây sẽ là nguồn thu của Nhà nước từ thuế, phí. Cùng với đó phải điều chỉnh chính sách thu bằng việc rà soát các sắc thuế hợp lý, trực thu, gián thu theo hướng mở rộng đối tượng thu. Nghĩa vụ thuế trên từng mặt hàng không tăng nhưng đối tượng nộp thuế rộng ra. Trong đó, Bộ Tài chính sẽ nghiên cứu xây dựng sắc thuế tài sản. Bên cạnh đó phải quản lý thu thuế hiệu quả, tránh thất thu thuế, giảm nợ đọng thuế. Mục tiêu của Bộ Tài chính đưa nợ đọng thuế về dưới 5% tổng thu NS.

Về chi NS sẽ tái cơ cấu theo hướng tăng dần chi phát triển. Năm 2017 dự toán chi phát triển lên 27% tổng NSNN. Bên cạnh đó yêu cầu các đơn vị sự nghiệp tăng tính tự chủ (điều chỉnh giá phí sự nghiệp công theo lộ trình) sẽ giảm chi khoảng 1.000 tỷ đồng, trong đó có cả y tế, giáo dục, đào tạo). Số kinh phí tiết kiệm này sẽ cơ cấu lại theo hướng thay vì hỗ trợ trực tiếp cho đơn vị sự nghiệp sẽ dành cho các đối tượng khó khăn, chính sách và đầu tư trở lại cho các lĩnh vực, đơn vị này. Bệnh viện tăng giá phí bao nhiêu yêu cầu phải tăng chất lượng, đầu tư trang thiết bị bấy nhiêu. Ngoài ra tiếp tục yêu cầu các bộ, ngành, địa phương tiết kiệm chi thường xuyên để điều chỉnh tăng lương năm 2017; không bố trí tiền cho các bộ mua xe từ cấp thứ trưởng trở xuống từ năm 2017…

- Theo tính toán của Chính phủ, tốc độ tăng thu nội địa giai đoạn 2017-2020 là 20%. Mức này được nhìn nhận khá cao so với giai đoạn trước chỉ 15%. Ngoài ra sắp tới Bộ Tài chính sẽ nghiên cứu đánh thuế tài sản. Những điều này tạo cho nhiều người có cảm giác Bộ Tài chính đang tận thu. Ông nghĩ sao về điều này?

- Thuế tài sản là thuế mang tính trực thu, đánh vào cá nhân có tài sản lớn, sở hữu nhiều. Thí dụ, người có 2-3 nhà thì nhà từ thứ 2 trở đi sẽ phải chịu thuế. Đây là sắc thuế các nước đều đã làm nên có thu cũng là theo thông lệ quốc tế. Sở dĩ thời gian tới chúng ta mới đặt vấn đề với thuế này vì cách thức quản lý thuế vừa qua không đạt được yêu cầu. Mặt khác, trước kia Bộ Tài chính cũng đặt ra nhưng còn có nhiều ý kiến khác nhau chứ không phải bây giờ mới đề cập đến. Còn về tăng thu nội địa, mức tăng như vậy tương đối cao so với giai đoạn vừa qua nhưng tính toán này cũng dựa trên cơ sở là tăng trưởng GDP dự kiến khá hơn. Mặt khác, một trong những lĩnh vực tăng thu lớn là dịch chuyển cơ cấu kinh tế, nếu khu vực nông nghiệp thu hẹp về 10-15%, công nghiệp và dịch vụ tăng tương ứng có thể thu thêm được từ chỗ đó.

Cũng cần phải lưu ý khi hội nhập, ngày càng sâu rộng, giảm thuế cũng là rủi ro nhưng tác động không lo lắm bởi thuế theo lộ trình đã giảm tương đối.

- Chính phủ phấn đấu tỷ lệ huy động vào NSNN trên GDP giai đoạn 2016-2020 bình quân 20-21%. Tuy nhiên, Ủy ban Tài chính - Ngân sách cho rằng việc xây dựng tỷ lệ này còn ở mức thấp và đề nghị định hướng kế hoạch khoảng 23,5-24%/GDP. Quan điểm của ông về vấn đề này?

- Chỉ tiêu 20-21% là theo nghị quyết của Đại hội Đảng. Còn trong tính toán của Bộ Tài chính, giai đoạn tới cũng đã tính toán con số khoảng 23,5-24%/GDP. Tuy nhiên, hiện chi trả nợ đang chiếm khoảng 27% tổng thu NS, trong khi theo quy định tỷ lệ này chỉ 25%. Vì thế năm 2017 sẽ phải kéo giảm về tỷ lệ 21-22%. Lý do của việc chi trả nợ vừa qua cao do giai đoạn 2011-2012 chúng ta vay kỳ hạn ngắn và thời điểm đó muốn vay dài cũng không được do lãi suất quá cao (14-15%/năm), do đó NS cũng không nên vay dài hạn để trả lãi cao. Tuy nhiên, hiện nay vay 10 năm chỉ 6%. Vay ngắn hạn nhiều nên thời gian trả nợ dồn vào các năm 2014, 2015, 2016. Ngoài ra, những năm qua bội chi tương đối cao nhưng năm 2017 bội chi sẽ phải giảm. Cùng với đó, tỷ lệ này cũng còn phụ thuộc vào tổng thu NS. Thu khó khăn tỷ trọng sẽ cao, còn thu khá hơn tỷ trọng sẽ giảm.

- Xin cảm ơn ông.

Ngọc Quang (thực hiện)