Dự thảo Nghị định quy định cơ chế thu và sử dụng học phí đối với các cơ sở giáo dục (GD) công lập thuộc hệ thống GD quốc dân từ năm học 2010-2011 đến năm học 2014 - 2015 vừa được Bộ GD-ĐT hoàn thiện và chuẩn bị công bố.

Nguyên tắc xác định học phí được nêu rõ trong dự thảo: đối với GD mầm non và GD phổ thông công lập, mức thu học phí phải phù hợp với điều kiện kinh tế của từng địa bàn dân cư, khả năng đóng góp thực tế của người dân. Đối với GD nghề nghiệp và GD ĐH công lập: mức thu học phí thực hiện theo nguyên tắc chia sẻ chi phí đào tạo giữa Nhà nước và người học. Cách tính học phí theo tín chỉ Với cơ sở GD nghề nghiệp và GD ĐH công lập chất lượng đại trà được Nhà nước hỗ trợ ngân sách chi thường xuyên, căn cứ vào khung học phí, đặc điểm và yêu cầu phát triển của ngành đào tạo, hình thức đào tạo, hoàn cảnh của học sinh, sinh viên để quy định mức thu học phí cụ thể đối với từng loại đối tượng, từng trình độ đào tạo. Các cơ sở GD công lập không được Nhà nước hỗ trợ ngân sách chi thường xuyên thì chủ động xây dựng mức thu học phí theo nguyên tắc đảm bảo bù đắp chi phí thường xuyên trình cấp thẩm quyền cho phép và phải công khai mức học phí cho người học biết trước khi tuyển sinh. Các cơ sở GD ngoài công lập được tự quyết định mức thu học phí, đồng thời phải thực hiện Quy chế công khai do Bộ GD-ĐT quy định. Dự thảo cũng quy định việc xác định mức thu học phí đào tạo theo tín chỉ. Theo đó, mức thu học phí của một tín chỉ được xác định căn cứ vào tổng thu học phí của toàn khóa học theo nhóm ngành đào tạo và số tín chỉ. Như vậy, các trường đào tạo theo hình thức tín chỉ phải lấy tổng học phí toàn khóa chia cho tổng số tín chỉ. Từ đó tính ra mức học phí của từng tín chỉ. Một tín chỉ được quy định bằng 15 tiết học lý thuyết, 30 - 45 tiết thực hành, thí nghiệm hoặc thảo luận; 45 - 90 giờ thực tập tại cơ sở; 45 - 60 giờ làm tiểu luận, bài tập lớn hoặc đồ án, khóa luận tốt nghiệp. Khung học phí đối với cơ sở GD ĐH theo 6 nhóm ngành đào tạo có chất lượng đại trà được quy định cụ thể như sau: ngành Khoa học xã hội, Kinh tế, Luật: 290.000-550.000 đồng/tháng; Kỹ thuật, Công nghệ: 310.000 - 650.000 đồng/tháng; Khoa học tự nhiên: 310.000 - 650.000 đồng/tháng; Nông - Lâm - Thủy sản: 290.000 - 550.000 đồng/tháng; Y Dược: 340.000 - 800.000 đồng/tháng; Thể dục thể thao, nghệ thuật: 310.000 - 650.000 đồng/tháng. Khối mầm non và phổ thông, khung học phí cụ thể/tháng được quy định theo khu vực và từng bậc học, cụ thể như sau: Khu vực thành phố, thị xã: học phí mầm non từ 110.000-160.000 đồng; THCS từ 30.000-50.000 đồng; THPT: 50.000-75.000 đồng. Khu vực nông thôn, đồng bằng, trung du: mầm non: 30.000-50.000 đồng; THCS: 15.000-35.000 đồng; THPT: 35.000-55.000 đồng. Nông thôn miền núi thấp: mầm non: 20.000-40.000 đồng; THCS: 10.000-30.000 đồng; THPT: 20.000-40.000 đồng. Khung học phí đối với 8 nhóm ngành đào tạo của trung cấp nghề được quy định mức thu cao nhất là 700.000 đồng/tháng (khối Thăm dò địa chất, thủy văn, khí tượng); thấp nhất là 200.000 đồng/tháng (khối Kỹ thuật điện tử, bưu chính viễn thông). Học phí phổ thông: Căn cứ thu nhập hộ gia đình Khung học phí trong toàn quốc ở cơ sở GD mầm non, GD phổ thông công lập theo chương trình chất lượng đại trà từ năm học 2010-2011 đến năm học 2014-2015 được phân theo 3 vùng: thành phố, thị xã có mức thu cao nhất; kế đến là vùng nông thôn, đồng bằng, trung du; sau cùng là vùng nông thôn miền núi thấp. Mức thu học phí đối với các cơ sở GD mầm non, phổ thông công lập do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định trên cơ sở đề nghị của Ủy ban nhân dân cùng cấp. Các trường mầm non, phổ thông công lập cung cấp chất lượng chăm sóc và GD cao hơn mức chất lượng đại trà của mỗi địa phương (tương ứng với mức chi phí của ngân sách nhà nước cho GD-ĐT) được phép thu học phí cao để đáp ứng nhu cầu cho con em học tập của các gia đình có thu nhập cao. Mức thu học phí được xác định trên cơ sở đảm bảo bù đắp chi phí đào tạo chương trình chất lượng cao. Để được phép thu mức học phí cao, ngoài việc cam kết chất lượng cao hơn mức đại trà, các cơ sở GD phải thực hiện quy chế công khai do Bộ GD-ĐT quy định. Học phí được thu định kỳ hằng tháng; nếu học sinh, sinh viên tự nguyện, nhà trường có thể thu một lần cho cả học kỳ hoặc cả năm học. Đối với cơ sở GD mầm non, GD thường xuyên và các khóa đào tạo ngắn hạn, học phí được thu theo số tháng thực học. Đối với cơ sở GD phổ thông, học phí được thu 9 tháng/năm. Đối với cơ sở GD nghề nghiệp, GD đại học, học phí được thu 10 tháng/năm. Trong trường hợp tổ chức giảng dạy, học tập theo học chế tín chỉ, cơ sở GD có thể quy đổi để thu học phí theo tín chỉ song tổng số học phí thu theo tín chỉ của cả khóa học không được vượt quá mức học phí quy định cho khóa học nếu thu theo năm học. Đối tượng được miễn, giảm học phí Những đối tượng không phải đóng học phí tại các cơ sở GD công lập bao gồm: học sinh tiểu học; học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú, trường dự bị đại học; học sinh, sinh viên hệ cử tuyển. Các đối tượng được giảm 70% học phí gồm: học sinh, sinh viên các chuyên ngành: nhã nhạc cung đình, chèo, tuồng, cải lương, múa, xiếc và một số chuyên ngành nặng nhọc, độc hại. Các đối tượng được giảm 50% học phí bao gồm trẻ em ở cơ sở GD mầm non và học sinh, sinh viên là con cán bộ, công nhân viên chức mà cha hoặc mẹ bị tai nạn lao động hoặc mắc bệnh nghề nghiệp được hưởng trợ cấp thường xuyên; trẻ em ở cơ sở GD mầm non và học sinh, sinh viên có cha mẹ thuộc diện hộ cận nghèo theo quy định của Nhà nước; học sinh tốt nghiệp THCS đi học nghề. Ngoài những quy định miễn giảm học phí cho các đối tượng đủ điều kiện, dự thảo cũng nêu rõ, Nhà nước thực hiện cấp bù học phí cho các cơ sở GD trong các trường hợp đột xuất. Tuệ Nguyễn