Vừa qua, một số phương tiện truyền thông đại chúng thông tin, thời gian đào tạo đại học (ĐH) hệ chính quy tại các trường ĐH Y sẽ rút xuống còn 4 năm...

Vừa qua, một số phương tiện truyền thông đại chúng thông tin, thời gian đào tạo đại học (ĐH) hệ chính quy tại các trường ĐH Y sẽ rút xuống còn 4 năm, kể cả đối với ngành y đa khoa và y học dự phòng (hiện đào tạo 6 năm) đang khiến dư luận hết sức quan tâm. Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Minh Lợi, Phó Cục trưởng Cục Khoa học Công nghệ và Đào tạo (Bộ Y tế), việc đưa thông tin về thời gian đào tạo y khoa rút xuống còn 4 năm là chưa chính xác.

Mô hình mới trong đào tạo y khoa

Theo ông Nguyễn Minh Lợi, đây chỉ là sắp xếp lại việc đào tạo theo 3 giai đoạn, nhằm khắc phục những bất cập hiện nay, như song song tồn tại cả bằng bác sĩ (BS) chuyên khoa 1, chuyên khoa 2 và tiến sĩ, thạc sĩ y khoa. Còn muốn trở thành BS vẫn bắt buộc phải có thời gian đào tạo tối thiểu 6 năm cộng thêm 1 năm thực hành nghề nghiệp và phải thi quốc gia để cấp chứng chỉ hành nghề.

Theo đó, Bộ Y tế đã đề xuất mô hình đào tạo y khoa trong thời gian tới với nhiều điểm thay đổi khi chia ra 2 hướng đào tạo và thành 3 giai đoạn: Giai đoạn 1 có trình độ ĐH với chương trình đào tạo 4 năm, sau khi tốt nghiệp được gọi là cử nhân y khoa. Bộ Y tế xác định giai đoạn đào tạo ĐH để cấp bằng cử nhân y khoa chỉ trang bị những kiến thức khoa học về y học gồm: kiến thức cơ bản, kiến thức cơ sở và những kiến thức nền tảng về chuyên ngành. Những người muốn học tiếp ở trình độ cao hơn để nghiên cứu hoặc hành nghề y khoa buộc phải học tiếp.

Thong tin 'bac si chi hoc 4 nam' la chua chinh xac - Anh 1

Muốn trở thành bác sĩ, vẫn bắt buộc phải có thời gian đào tạo tối thiểu 6 năm cộng thêm 1 năm thực hành nghề nghiệp. Ảnh: TM

Giai đoạn 2, trình độ thạc sĩ và tương đương. Nếu đi theo hướng nghiên cứu (dự báo khoảng dưới 5%) thì học chương trình đào tạo thạc sĩ, trong đó có thạc sĩ y học. Nếu đi theo hướng hành nghề (dự báo khoảng trên 95%), học chương trình y khoa khoảng 2 năm, tốt nghiệp được gọi là BS y khoa. Những người này phải trải qua thời gian thực hành nghề nghiệp khoảng một năm và trải qua kỳ thi quốc gia để cấp chứng chỉ hành nghề với vai trò BS đa khoa.

Giai đoạn 3, trình độ tiến sĩ và tương đương. Nếu đi theo hướng nghiên cứu, người có bằng thạc sĩ y học học chương trình đào tạo tiến sĩ y học. Nếu đi theo hướng hành nghề, người được công nhận BS đa khoa học chương trình chuyên khoa tối thiểu khoảng 2 năm, tốt nghiệp được gọi là BS chuyên khoa.

Đối với điểm mới về bổ sung quy định kỳ thi quốc gia để cấp chứng chỉ hành nghề, nếu đi theo hướng hành nghề khám chữa bệnh (KCB), ông Lợi nhấn mạnh, hiện nay, chỉ cần tốt nghiệp ĐH y với 6 năm học là thành BS và được hành nghề, tuy nhiên, điểm mới quan trọng trong dự thảo Nghị định về tổ chức đào tạo thực hành y khoa thì để trở thành BS, bắt buộc phải có thời gian đào tạo tối thiểu 6 năm, thêm 1 năm thực hành nghề nghiệp và thi quốc gia để cấp chứng chỉ hành nghề. Tiếp đến, hiện nay, những người có bằng tiến sĩ, thạc sĩ y học vẫn được hành nghề KCB như các BS đa khoa, chuyên khoa. Nhưng tới đây, các tiến sĩ, thạc sĩ y học sẽ không được hành nghề KCB nếu không học thêm chương trình bác sĩ y khoa và BS chuyên khoa và chưa thi chứng chỉ hành nghề.

Đổi mới đào tạo để nâng cao chất lượng KCB và yêu cầu hội nhập

Trước câu hỏi đâu là cơ sở khiến Bộ Y tế đề xuất thay đổi hình thức đào tạo? Ông Lợi thông tin, qua nghiên cứu cho thấy mô hình đào tạo y khoa tại Việt Nam đã bộc lộ một số vấn đề bất cập, chưa thực sự hội nhập với xu hướng quốc tế. Chính vì vậy, Bộ Y tế đã đề xuất đổi mới mô hình đào tạo y khoa của Việt Nam sau khi lấy ý kiến của các cơ sở đào tạo, các nhà khoa học và Hội đồng Hiệu trưởng các trường ĐH Y, Dược Việt Nam. Đồng thời mô hình này đã được Bộ Y tế tham vấn ý kiến các chuyên gia trong nước và quốc tế, mà mới đây nhất là Hội thảo Chia sẻ kinh nghiệm quốc tế về đào tạo nhân lực y tế (cuối tháng 9 vừa qua), đồng thời báo cáo trước Hội đồng Quốc gia Giáo dục và Ủy ban Quốc gia về đổi mới và phát triển nguồn nhân lực.

Mục đích của đổi mới trong đào tạo y khoa sẽ được xây dựng sao cho phù hợp và hài hòa chung trong hệ thống giáo dục Việt Nam; đảm bảo tính đặc thù trong đào tạo y khoa (hướng nghiên cứu và hướng hành nghề KCB); có sự kế thừa mô hình đào tạo đang áp dụng, không gây xáo trộn về cơ cấu nhân lực trong hệ thống y tế.

Ngoài ra, việc đổi mới này cũng đảm bảo công bằng, tạo điều kiện thuận lợi, phát huy tối đa năng lực làm việc và quyền lợi cho người cán bộ y tế khi tham gia thị trường lao động, đảm bảo tính hội nhập quốc tế, dễ dàng tham chiếu khi công nhận lẫn nhau về văn bằng, trình độ đào tạo và thi quốc gia để cấp chứng chỉ hành nghề...; bảo đảm tính khả thi và phù hợp thực tiễn Việt Nam.

Nguyễn Hoàng