Chiều nay, 20/6, Quốc hội đã chính thức thông qua Dự thảo sửa đổi bổ sung luật Hình sự 2017.

Thong qua Luat hinh su, thu hep trach nhiem to giac toi pham cua Luat su - Anh 1

Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp của Quốc hội Lê Thị Nga trình bày Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13.

Tại phiên họp, dưới sự điều hành nội dung của Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu, Quốc hội biểu quyết thông qua dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 với 434/457 đại biểu Quốc hội tham gia biểu quyết tán thành, chiếm 88,39% tổng số đại biểu Quốc hội.

Trước đó, tại các cuộc thảo luận, các ĐBQH đã có nhiều ý kiến đóng góp cho Dự thảo của Luật. Vấn đề còn nhiều ý kiến đóng góp như Nguyên tắc xử lý của BLHS, - Phân loại tội phạm, Trách nhiệm hình sự của người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi..

Đặc biệt, về quy định liên quan đến trách nhiệm hình sự đối với người không tố giác tội phạm của BLHS năm 2015, giới luật sư đã phản ứng gay gắt, vì cho rằng luật sư tố giác thân chủ là vi phạm đạo đức nghề nghiệp...,

UBTQH cho biết, có ý kiến đề nghị giữ phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của người bào chữa như BLHS năm 2015 để bảo đảm nhất quán về chính sách hình sự của Nhà nước ta, tăng cường trách nhiệm công dân của người bào chữa trong công tác đấu tranh phòng, chống các tội xâm phạm an ninh quốc gia và các tội đặc biệt nghiêm trọng;

Có ý kiến đề nghị quy định chính sách đối với người bào chữa tương tự như chính sách đối với ông, bà, cha, mẹ, anh chị em ruột... của người phạm tội quy định tại BLHS năm 2015; Có ý kiến đề nghị chỉ nên giới hạn Luật sư phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi không tố giác tội phạm đối với giai đoạn chuẩn bị phạm tội và đang thực hiện tội phạm nhằm ngăn ngừa hậu quả xảy ra và chỉ đối với một số tội nhất định mà không mở rộng sang cả giai đoạn tội phạm đã thực hiện;

Có ý kiến đề nghị không quy định Luật sư phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi không tố giác tội phạm và cho rằng, quy định này xung đột với Điều 73 Bộ luật tố tụng hình sự quy định người bào chữa “không được tiết lộ thông tin về vụ án, về người bị buộc tội mà mình biết khi bào chữa” và không tương thích với thông lệ quốc tế; không bảo đảm quyền bào chữa, nguyên tắc suy đoán vô tội và nguyên tắc tranh tụng trong xét xử; không phù hợp với tính chất đặc thù của nghề luật sư, có thể dẫn đến mất niềm tin của thân chủ đối với Luật sư.

Trong quá trình chỉnh lý dự thảo Luật, Ban thường vụ Liên đoàn Luật sư Việt Nam đề nghị 02 phương án : Phương án 1: chỉ quy định trách nhiệm hình sự của người bào chữa trong trường hợp “không tiết lộ thông tin về tội phạm do chính người mà mình bào chữa thực hiện đối với các tội đặc biệt nghiêm trọng xâm phạm an ninh quốc gia quy định tại Điều 108 (Tội phản bội Tổ quốc), Điều 109 (Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân), Điều 112 (Tội bạo loạn), Điều 113 (Tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân) và Điều 123 (Tội giết người) khi có căn cứ rõ ràng cho thấy tội phạm đó đang thực hiện hoặc đang chuẩn bị thực hiện mà cần thiết phải ngăn chặn hậu quả xảy ra”.

Phương án 2: đề nghị bỏ khoản 3 Điều 19 của Bộ luật hình sự năm 2015. UBTVQH nhận thấy, về nguyên tắc, với tư cách là công dân thì người bào chữa có nghĩa vụ bình đẳng như mọi công dân khác trong việc tố giác tội phạm. Nguyên tắc này đã được Hiến pháp ghi nhận “Công dân có nghĩa vụ tuân theo Hiến pháp và pháp luật; tham gia bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội” (Điều 46 Hiến pháp năm 2013, Điều 79 Hiến pháp năm 1992, Điều 78 Hiến pháp năm 1980) và được thể chế hóa trong các luật về tư pháp từ trước đến nay. Điều 4 BLHS năm 2015 quy định: “Mọi công dân có nghĩa vụ tích cực đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm”; Điều 5 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định “… cá nhân có nghĩa vụ phát hiện, tố giác, báo tin về tội phạm”.

Giải trình về vấn đề này, báo cáo của Ủy ban thường vụ Quốc hội nêu rõ, năm 2015, cân nhắc đặc thù của hoạt động bào chữa, mối quan hệ giữa người bào chữa với người được bào chữa nên tại Bộ luật hình sự năm 2015, Quốc hội đã có sự điều chỉnh hợp lý hơn chính sách này theo hướng thu hẹp một phần phạm vi trách nhiệm hình sự của người bào chữa so với công dân khác trong việc không tố giác tội phạm.

Việc Nhà nước không miễn trừ hoàn toàn trách nhiệm của người bào chữa xuất phát từ mục đích bảo vệ an ninh quốc gia, bảo vệ trật tự, an toàn xã hội, vì lợi ích chung của cộng đồng nên trong một số trường hợp người bào chữa vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi không tố giác tội phạm của chính người mà mình bào chữa.

Do đó, Bộ luật hình sự năm 2015 đã xác định người bào chữa phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi không tố giác tội phạm do chính người mà mình bào chữa thực hiện đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia và tội khác là tội đặc biệt nghiêm trọng (ở cả 3 giai đoạn: chuẩn bị phạm tội, đang thực hiện tội phạm và đã thực hiện tội phạm), còn đối với các tội khác được quy định tại Điều 389 thì chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự ở 02 giai đoạn chuẩn bị phạm tội và đang thực hiện tội phạm; không phải chịu trách nhiệm hình sự đối với giai đoạn đã thực hiện tội phạm.

Ủy ban thường vụ Quốc hội đề nghị Quốc hội cho tiếp thu một phần ý kiến của đại biểu Quốc hội, của Ban thường vụ Liên đoàn Luật sư Việt Nam để chỉnh lý khoản 3 Điều 19 của Bộ luật hình sự 2015 theo hướng thu hẹp hơn phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của người bào chữa về hành vi không tố giác tội phạm.

Cụ thể như sau: “Điều 19. Không tố giác tội phạm 1. Người nào biết rõ tội phạm đang được chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác tội phạm theo quy định tại Điều 390 của Bộ luật này. 2. Người không tố giác là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. 3. Người không tố giác là người bào chữa không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do chính người mà mình bào chữa đang chuẩn bị, đang thực hiện hoặc đã thực hiện mà người bào chữa biết rõ khi thực hiện nhiệm vụ bào chữa”.

Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2018. Cùng với đó thì kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2018, Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật này (gọi là Bộ luật Hình sự năm 2015); Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13; Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13; Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH13 cũng sẽ có hiệu lực thi hành.

Nhật Thanh