TP - Hội thảo chuyên đề Kinh nghiệm phòng chống lụt bão sau 10 năm lũ lớn ở miền Trung – năm 1999 do Bộ NN&PTNT, Cục Quản lý Đê điều và Phòng chống lụt bão tổ chức tại Đà Nẵng hôm qua, 27/11

Ông Huỳnh Vạn Thắng – Phó ban thường trực Ban chỉ huy PCLB TP Đà Nẵng cho biết: Trước đây, bình quân 10 năm mới có một trận lụt lớn nhưng 10 năm qua (1999 – 2009) đã liên tục xuất hiện nhiều cơn bão lũ lớn. Cơn bão Chanchu (5/2006) cho thấy rõ hơn những bất cập từ dự báo đến chỉ đạo ứng phó, rõ nét hơn về vấn đề thiên tai đặt ra đối với kinh tế biển. Tiếp đến cơn bão Xangsane (tháng 10/2006), dù chủ động dự báo trúng và chỉ đạo tập trung, khả năng tổ chức ứng phó cao (toàn vùng đã hướng dẫn 63.000 tàu thuyền và sơ tán khẩn cấp 58.000 hộ dân với 270.000 người về nơi trú ẩn an toàn trước khi bão đổ bộ), tuy nhiên thành phố vẫn bị thiệt hại nặng nề về công nghiệp và cơ sở hạ tầng. Đến năm 2007, lũ đặc biệt lớn ở Đà Nẵng gây thiệt hại tới 1.524 tỷ đồng. Theo Bộ NN&PTNT, gần đây có tới 80 – 90 phần trăm dân số Việt Nam chịu ảnh hưởng của bão, lũ. Trung bình mỗi năm có trên 750 người chết và mất tích do bão lũ, làm tổn thất về kinh tế khoảng 1,5 phần trăm GDP/năm. Trong đó, miền Trung là khu vực chịu ảnh hưởng nhiều nhất của bão, lũ (chiếm 65 phần trăm). Theo Cục Quản lý đê điều và PCLB: Giai đoạn 1999 - 2008, trung bình mỗi tháng có 1,1 cơn bão đổ bộ vào khu vực miền Trung. Con số này tuy giảm hơn so với giai đoạn từ 1951 đến 1998, nhưng mức độ tàn phá lại tăng hơn rất nhiều. Đặc biệt, mới đây cơn bão số 11, tại Phú Yên do bị kết hợp với xả lũ của thủy điện Sông Ba Hạ với lưu lượng 14.500m 3 /s (thủy điện Hòa Bình từ trước tới nay xả lũ lớn nhất cũng chỉ 16.000m 3 /s) đã gây nên thảm họa làm 76 người chết, gần như cả TP Tuy Hòa bị ngập nặng... Trước đó, một tổ hợp thiên tai nặng nề đã hình thành nên bão số 10 (Ketsana) đổ bộ vào Quảng Nam, Quảng Ngãi, Tây Nguyên, riêng Kon Tum đã có 40 người chết, mất tích. Hội thảo cho rằng thủy điện ở khu vực này chỉ an toàn và đem lại hiệu quả cao nếu được điều hành thống nhất. Ông Nguyễn Ty Niên , nguyên Cục trưởng Cục Quản lý đê điều và PCLB nhấn mạnh: Ảnh hưởng của nhân tai thì quá rõ ràng. Những bãi gỗ trôi đến tận cuối sông Vu Gia, Thu Bồn, Dakbla; những dòng sông trơ sỏi đá sau lũ, những ngôi làng bị xóa sổ cho thấy rừng bị tàn phá nặng nề không còn kiểm soát được, cộng thêm nạn khai thác khoáng sản, vấn đề xả lũ thủy điện... Một đại biểu bức xúc: Phải nói thêm rằng, một số cán bộ có trách nhiệm cho rằng các thủy điện đã vận hành đúng quy trình. Nhưng vấn đề là quy trình nào? Không thể xét theo lợi ích cụ thể của doanh nghiệp mà vấn đề ở đây là phải đứng trên góc độ về an toàn dân sinh, an toàn có tầm quốc gia để xem xét một quy trình! Theo ông Huỳnh Vạn Thắng: Riêng ở hạ lưu sông Vu Gia, bao gồm TP Đà Nẵng và các huyện Đại Lộc, Điện Bàn (Quảng Nam), với các quy trình vận hành các hồ chứa thủy điện đã được phê duyệt như hiện nay, thì tình hình hạn hán, thiếu nước sẽ trở nên nghiêm trọng. Ông Thắng kiến nghị cần có bước nghiên cứu điều chỉnh quy hoạch xây dựng các công trình thủy điện trong mùa mưa và cả mùa khô trên thượng lưu sông Vu Gia - Thu Bồn theo hướng có đánh giá rõ ràng về tác động môi trường; xây dựng quy trình vận hành xả lũ cũng như điều tiết nước của các hồ thủy điện với sự tham gia và giám sát của địa phương. Nhiều đại biểu cũng cho rằng: thủy điện xả lũ, tình trạng phá rừng, kết cấu hạ tầng ở miền Trung - Tây Nguyên, nhất là giao thông chưa hợp lý đang là một mối họa nhân tai trong việc gây lên các cơn lũ dữ đổ vào các tỉnh, thành trong khu vực.