Việc hiệp định thương mại tự do (FTA) giữa Việt Nam và Liên minh kinh tế Á Âu (EAEU) chính thức có hiệu lực từ hơn 1 tháng nay, đang mở ra nhiều kỳ vọng xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam vào các nước thuộc liên minh, đặc biệt là thị trường Nga.

Nhiều cơ hội

Trong buổi trò truyện với ĐTTC cách đây ít lâu, ông Phạm Xuân Hồng, Chủ tịch Hội Dệt may thêu đan TPHCM, cho biết hiện các DN dệt may trong nước đang quan tâm đến một số thị trường, như khu vực Liên minh kinh tế Á Âu, đặc biệt thị trường Nga với dư địa còn rất lớn. Hiện mỗi năm EAEU nhập khẩu 17 tỷ USD hàng dệt may, nhưng thị phần của Việt Nam còn rất nhỏ, chỉ chiếm chưa tới 2%. Với FTA lần này, Hiệp hội Dệt may Việt Nam (Vitas) kỳ vọng hàng dệt may Việt Nam sẽ có bước tăng trưởng mạnh khi vào Nga đạt khoảng hơn 1 tỷ USD, chiếm khoảng 10% dung lượng thị trường. Đặc biệt, ngay sau khi hiệp định có hiệu lực, 36% dòng thuế đối với sản phẩm dệt may sẽ xóa bỏ hoàn toàn trong lộ trình tối đa 10 năm. Song hành với dệt may, thủy sản là ngành hàng cũng được kỳ vọng hưởng lợi rất nhiều từ FTA này. Cụ thể, EAEU mở cửa có lộ trình với 95% tổng số dòng thuế, tối đa trong 10 năm (trong đó hơn 71% dòng thuế được xóa bỏ hoàn toàn ngay sau khi hiệp định này có hiệu lực, tương đương 100% tổng kim ngạch xuất khẩu trung bình trong 3 năm từ 2010-2012 của Việt Nam vào EAEU); 5% dòng thuế còn lại là các mặt hàng Việt Nam không có thế mạnh xuất khẩu.

Ngoài ra còn nhiều ngành hàng khác của Việt Nam cũng được cắt giảm thuế mạnh khi hiệp định có hiệu lực, như giày dép, túi xách, đồ gỗ, nông sản… Cụ thể, 73% dòng thuế mặt hàng giày dép xóa bỏ hoàn toàn, lộ trình tối đa 5 năm (chiếm 99% tổng kim ngạch xuất khẩu). Riêng túi xách 100% dòng thuế cam kết xóa bỏ thuế hoàn toàn. Dự kiến trong những năm đầu tiên hiệp định có hiệu lực, các nhà xuất khẩu Việt Nam sẽ tiết kiệm được khoảng 5-10 triệu USD tiền thuế. Đặc biệt, FTA lần này với EAEU không đặt ra những tiêu chí khắt khe về quy tắc xuất xứ, nên các DN Việt Nam cũng rất dễ thở. “Trong thị trường sản phẩm công nghiệp nhẹ, Nga đang có xu hướng chuyển đổi các mặt hàng nhập khẩu từ Trung Quốc sang các nước khác. Đây là cơ hội lớn cho DN Việt Nam” - ông Trần Việt Phương, Vụ thị trường châu Âu, Bộ Công Thương, nhận định. Về tổng quan, hiệp định lần này được trông đợi sẽ đưa kim ngạch thương mại song phương từ 4 tỷ USD lên mức 10 tỷ USD trong vài năm tới.

Thi truong Nga sau FTA - Anh 1

Lắm rào cản

Như đã nói, giày dép là một trong những ngành hàng được đánh giá hưởng lợi nhiều từ FTA này. Nhưng theo ông Nguyễn Văn Khánh, Tổng thư ký Hội Da giày TPHCM, các DN cũng không mặn mà với thị trường này vì không cạnh tranh nổi với các sản phẩm cùng loại từ Trung Quốc về giá. “Khi làm việc với các đối tác Nga, dù DN Việt Nam đã đưa ra mức giá rẻ nhất nhưng đối tác vẫn lắc đầu chê cao. Hiện chúng tôi chỉ khuyến khích 3-4 DN chuyên sản xuất các sản phẩm từ da cá sấu quan tâm nhiều hơn đến thị trường Nga vì dòng sản phẩm này chưa có đối thủ cạnh tranh. Ngoài ra vấn đề thanh toán với đối tác Nga cũng là một rào cản không nhỏ” - ông Khánh nhấn mạnh.

Tại hội thảo tiếp cận thị trường Nga tổ chức cách đây ít hôm, bà Đỗ Thị Thanh Huyền, đại diện BIDV, phân tích một số rủi ro về thanh toán với đối tác Nga, như nhiều DN Nga chưa tuân thủ chặt chẽ các thông lệ quốc tế, ưu tiên sử dụng phương thức thanh toán chuyển tiền trả chậm (trong các giao dịch nhập khẩu từ Việt Nam), hoặc đòi tiền trả trước (trong giao dịch xuất khẩu sang Việt Nam), gây khó khăn về vốn và tăng yếu tố rủi ro cho DN Việt Nam. Các phương thức thanh toán theo thông lệ như L/C lại có chi phí khá cao nên DN không mặn mà sử dụng. Kênh thanh toán không chính thống ở thị trường tiền tệ đen hoạt động rất mạnh, thủ tục đơn giản, chi phí thấp nhưng lại tiềm ẩn nhiều rủi ro cho DN. Chưa kể, do chính sách thắt chặt cấm vận Nga của Hoa Kỳ và châu Âu khiến hoạt động thanh toán đến nước này bị thu hẹp, thời gian thanh toán kéo dài, có giao dịch kéo dài cả tháng trời.

Mặc dù hiện nay 2 bên đã xây dựng kênh thanh toán riêng nhưng việc thanh toán bằng đồng rúp vẫn khiến nhiều DN e ngại. Ngoài ra việc Liên minh áp dụng cơ chế “phòng vệ ngưỡng” và một số sản phẩm không cam kết, cũng gây khó khăn cho một số nhóm ngành như dệt may. Trong cơ chế phòng vệ đặc biệt, mức khởi đầu để áp dụng mức thuế 0% được tính bằng 1,5 khối lượng xuất khẩu trung bình trong 3 năm gần đây, nếu Việt Nam xuất khẩu quá lượng này, Liên minh kinh tế Á-Âu sẽ tiến hành điều tra và quyết định xem có áp dụng thuế suất MFN hay không, nếu có thời gian áp dụng có thể kéo dài từ 6 tháng. Và nếu trong thời gian xem xét ra quyết định áp dụng thuế MFN, lượng hàng của Việt Nam xuất khẩu vượt quá 150% mức “phòng vệ ngưỡng”, thời gian áp dụng có thể kéo dài thêm 3 tháng nữa. Do vậy lợi ích ưu đãi với mặt hàng này bị hạn chế một phần, mặt khác cơ chế phân bổ và giám sát chỉ tiêu cũng tạo thêm thủ tục hành chính cho cả cơ quan quản lý nhà nước và DN.

Phía Liên minh cũng hạn chế với một số mặt hàng nông sản của Việt Nam. Cụ thể sẽ giảm thuế về 0% ngay đối với chè nguyên liệu và cà phê nguyên liệu (chưa rang), không cam kết giảm thuế với chè xanh đóng gói dưới 3kg. Trong khi đó, hạn ngạch thuế quan với mặt hàng gạo 10.000 tấn/năm. Có thể nói hiệp định mới có hiệu lực hơn 1 tháng nên khó nhìn vào một tương lai xa, song việc nhìn nhận những lợi thế cũng như rào cản sẽ giúp DN Việt Nam tận dụng tốt nhất những cơ hội FTA này mang lại.

Thái Hà