Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) đã và đang thực hiện việc rà soát, đánh giá tổng thể các tác động môi trường đối với những dự án thành lập mới, hoặc mở rộng khu công nghiệp (KCN) theo Quyết định 1107 ngày 21/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ.

Thanh tra ha tang BVMT - Anh 1

Nhiều cơ sở công nghiệp gây ô nhiễm môi trường. Ảnh: TTXVN/Văn Hào

Qua đó, Bộ chỉ cho phép các KCN xây dựng mới đi vào hoạt động sau khi hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật về bảo vệ môi trường (BVMT), tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật về BVMT. Trong đó có Thông tư số 35/2015 ngày 30/6/2015 của Bộ quy định về BVMT khu kinh tế, KCN, khu chế xuất, khu công nghệ cao.

Bộ TN&MT cũng không cho phép thu hút các dự án đầu tư vào KCN hoặc thực hiện thủ tục mở rộng tại các KCN đã đi vào hoạt động, nhưng chưa hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật BVMT. Bộ yêu cầu các KCN đã đi vào hoạt động phải hoàn thành việc xây dựng, vận hành hệ thống xử lý nước thải tập trung theo đúng quy định của pháp luật; đồng thời tiếp tục tăng cường thanh tra, kiểm tra các chủ đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng KCN, cụm công nghiệp trong việc xây dựng, vận hành hệ thống xử lý nước thải tập trung...

Vụ trưởng Vụ Chính sách và Pháp luật, Tổng cục Môi trường Dương Thanh An cho biết, hiện cả nước có 212/283 KCN đang hoạt động đã hoàn thành việc xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung, đạt tỷ lệ 75% với 102 hệ thống đã được lắp đặt thiết bị quan trắc nước thải tự động theo quy định; 19 KCN đang xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung; 615 cụm công nghiệp đang hoạt động nhưng chỉ có hơn 5% đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung. Tỷ lệ các KCN đã đi vào hoạt động có hệ thống này đi vào vận hành đã tăng lên đáng kể so với những năm trước đây, tiêu biểu là khu vực Đông Nam Bộ đạt 96,7%.

Tổng công suất xử lý nước thải của các nhà máy hiện đang hoạt động đạt hơn 800.000m 3 /ngày đêm, công suất trung bình mỗi nhà máy đang hoạt động đạt 4.000m 3 /ngày đêm, nhỏ nhất 600m 3 /ngày đêm. Với lưu lượng nước thải hiện tại của 212 KCN khoảng 550.000m 3 /ngày đêm, các nhà máy xử lý nước thải tập trung đáp ứng được lượng nước thải hiện có của các doanh nghiệp trong KCN.

Tuy vậy, công tác quy hoạch các KCN còn bất cập, phân bố KCN không đều. Riêng tại khu vực Đông Nam Bộ đã có tới 95 KCN đang hoạt động, chiếm 33% tổng số KCN đang hoạt động trên cả nước, gây áp lực môi trường lớn cho khu vực này, nhất là lưu vực sông Đồng Nai, Thị Vải. Hoạt động của hệ thống xử lý nước thải tập trung tại một số KCN không hiệu quả do chủ đầu tư không tính đến tiến độ thu hút đầu tư, dẫn đến lượng nước thải thu gom quá ít, không đủ để vận hành thường xuyện.

Bên cạnh đó, một số KCN không vận hành hệ thống xử lý nước thải do các cơ sở chưa thực hiện việc đấu nối. Việc đầu tư hệ thống quan trắc nước thải tự động tại KCN còn nhiều hạn chế, không theo đúng quy định của Luật BVMT năm 2014. Vì mới chỉ có 102 KCN có hệ thống xử lý nước thải tập trung được lắp đặt hệ thống quan trắc nước thải tự động, chiếm tỷ lệ 48%.

Hầu hết các KCN chưa lập kế hoạch phòng ngừa và ứng phó sự cố môi trường theo quy định của Luật BVMT năm 2014. Vị trí của các cơ sở nằm trong các KCN cũng chưa tính đến yếu tố phòng ngừa và ứng phó khi xảy ra sự cố môi trường. Ở nhiều nơi vẫn tồn tại tình trạng cơ sở sản xuất hoặc sử dụng hóa chất nguy hại nằm cạnh các cơ sở khác có số lượng lớn công nhân như may mặc, da giày... dẫn đến nguy cơ cao ảnh hưởng đến sức khỏe nếu có sự cố xảy ra.

Văn Hào