Những ngày này, công nhân vùng mỏ đang náo nức kỷ niệm 80 năm truyền thống ngành than. Đến Cẩm Phả, người ta dễ dàng cảm nhận nhịp sống công nghiệp và dấu ấn của ngành than. Dấu ấn của những người công nhân mỏ đã tạo nên đặc trưng của mảnh đất này.

Thanh pho cua nhung nguoi tho mo - Anh 1

Quảng Ninh là “cái nôi” của ngành than, trong đó, Cẩm Phả là thành phố có đậm nét nhất nếp sống công nghiệp của ngành than. Hầu như trong mỗi gia đình ở thành phố này, đều có người làm công nhân mỏ. Người dân trong những câu chuyện đời thường đều xoay quanh chủ đề về than: Chuyện làm ca hai, ca ba, chuyện vào xưởng máy, chuyện lên tầng cao hay xuống lò sâu...

Tìm một gia đình có hai, ba thế hệ làm công nhân mỏ ở Cẩm Phả là việc không khó. Anh Võ Cường, cán bộ văn phòng của Công ty Than Cọc Sáu đưa chúng tôi đến nhà ông Nguyễn Đức Ứng, quê ở Nam Định, hiện thường trú ở khu 3, phường Cẩm Phú. Theo lời giới thiệu của anh Cường, ông Ứng 86 tuổi, có gần 40 năm gắn bó với ngành than là một trong những công nhân mỏ thuộc thế hệ đầu tiên khai phá vùng mỏ Cẩm Phả. Câu chuyện của ông Ứng với chúng tôi cứ tuần tự về những ký ức trong những ngày tháng cũ. Năm 1960, sau khi xuất ngũ, như nhiều thanh niên trẻ tuổi thời kỳ đó, ông tập kết ra vùng mỏ Cẩm Phả và được bố trí vào Xí nghiệp than Cọc Sáu, khi vừa tròn 23 tuổi. Ông được cử đi học, đào tạo lái máy xúc do các chuyên gia của Liên Xô (cũ) trực tiếp giảng dạy trong thời gian ba tháng, sau khi ra trường ông được cấp chứng chỉ thợ lái máy xúc bậc 4/7.

Công nhân mỏ thời đó vô cùng vất vả, với nhiệm vụ điều khiển máy xúc bốc xúc đất đá, ba người một ca sản xuất, ông và các anh em trong tổ làm việc hầu như không có ngày nghỉ. Có những lần đang làm việc thì bị máy bay Mỹ ném bom, bắn phá. Rồi thời kỳ đầu mới thành lập xí nghiệp, trong bối cảnh kinh tế đất nước gặp nhiều khó khăn, thợ mỏ thường xuyên sống trong cảnh thiếu lương thực. Gạo không đủ, ông và mọi người phải ăn bo bo, mộc mạch thay cơm. Khó khăn, vất vả là thế, nhưng những công nhân mỏ vẫn luôn vững vàng quyết tâm vượt lên, thi đua lao động sản xuất. Trong những năm công tác tại Công ty Than Cọc Sáu, ông Ứng luôn được bầu chọn là thợ lái máy xúc có tay nghề giỏi, đồng thời liên tục đạt danh hiệu chiến sĩ thi đua và lao động tiên tiến của công ty và ngành than.

Tiếp nối ngọn lửa truyền thống, các thế hệ sau trong gia đình ông cũng gắn bó với vùng mỏ Cẩm Phả. Con gái thứ hai của ông là chị Nguyễn Thị Kim Luyến, sinh năm 1968, hiện đang là Phó quản đốc công trường băng sàng của Công ty Than Cọc Sáu. Con trai út của ông là Nguyễn Đại Phong, sinh năm 1970, hiện đang là Phó trưởng phòng Kỹ thuật vận tải của Công ty Than Cọc Sáu. Thế hệ thứ ba, cháu nội là Nguyễn Hoàng Bảo Anh, sinh năm 1989 và cháu ngoại là Nguyễn Đức Hạnh cũng đều làm công nhân ở Công ty Than Cọc Sáu. Vợ ông là bà Phạm Thị Tỉnh cũng đã hơn 30 năm công tác tại công ty này. Cả hai ông bà và các con, cháu trong gia đình đang công tác tại Công ty Than Cọc Sáu đều là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, cá nhân ông đã được trao Huy hiệu 30 năm tuổi Đảng.

Ông Ứng chia sẻ với chúng tôi: “Trước đây, điều kiện sản xuất ở vùng mỏ khó khăn, điều kiện làm việc vất vả, nay nhiều trang, thiết bị hiện đại hỗ trợ, năng suất lao động tăng cao, đời sống của công nhân ngày càng cải thiện. Vùng mỏ Cẩm Phả đổi thay, phát triển từng ngày, cuộc sống sinh hoạt của người công nhân không ngừng được quan tâm. Tôi luôn căn dặn con, cháu phải ghi nhớ và phát huy tinh thần "kỷ luật và đồng tâm" của công nhân vùng mỏ để góp phần xây dựng quê hương Quảng Ninh ngày càng giàu đẹp”.

Gần 20 năm gắn bó với những đường lò, anh Vũ Hồng Khánh, sinh năm 1977, Quản đốc phân xưởng đào lò 7, Công ty Xây dựng mỏ hầm lò 1 được đồng nghiệp tôn vinh là “thủ lĩnh đào lò”. Anh cũng chính là người đặt nhát cuốc đầu tiên đào lò giếng đứng Núi Béo - dự án hầm lò khai thông bằng giếng đứng đầu tiên do Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam tự tổ chức thiết kế và thi công. Tốt nghiệp Trường đại học Mỏ - Địa chất, năm 1998, anh Khánh về công tác tại Công ty Xây dựng mỏ hầm lò 1. Với nhiệt huyết của tuổi trẻ, với quyết tâm, anh đã nỗ lực làm việc, học hỏi kinh nghiệm của những người đi trước, có nhiều sáng kiến được ứng dụng trong lao động sản xuất. Chính từ niềm đam mê, khao khát, luôn đi đầu chinh phục các công trình khó, anh đã được công ty và Tập đoàn tin tưởng “chọn mặt gửi vàng” thi công dự án giếng đứng Núi Béo.

Chúng tôi thật bất ngờ khi biết anh Khánh chính là con trai của ông Vũ Hồng Nghinh, người đặt nhát cuốc đầu tiên khôi phục mỏ giếng đứng Mông Dương ngày 9-11-1969 từ thời Pháp để lại. Anh Khánh chia sẻ, động lực để anh có thể đảm nhận và hoàn thành xuất sắc công trình dự án mỏ giếng đứng Núi Béo đó chính là nhờ tình yêu mỏ và những bài học kinh nghiệm quý báu của bố anh truyền lại. Anh Khánh bộc bạch: “Cuộc sống gia đình tôi luôn tràn ngập những câu chuyện, kỷ niệm với niềm đam mê nghề mỏ. Đến nay, cháu ruột tôi cũng theo chân chú làm công nhân mỏ. Con trai tôi dù đang học lớp 10, nhưng đã sớm định hình cho mình một hướng đi kế tục truyền thống của gia đình”.

Ngược dòng thời gian, năm 1888, sau khi mua lại vùng mỏ từ tay triều đình Huế, thực dân Pháp thành lập Công ty than Bắc Kỳ, trụ sở chính đặt tại Cẩm Phả và tiến hành thăm dò khai thác. Vùng mỏ Quảng Ninh nhanh chóng trở thành khu công nghiệp lớn và quan trọng nhất ở Việt Nam và Đông Dương thời bấy giờ. Và cũng rất nhanh chóng, công nhân mỏ trở thành lực lượng dân cư chính tại đây. Từ các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ như Nam Định, Thái Bình,... lượng người đổ về làm phu mỏ ngày một đông. Công nhân mỏ và gia đình của họ ở trong các lán thợ xập xệ trải dài dưới chân các mỏ than, sống lầm than bằng đồng lương chết đói. Không chỉ bị bóc lột sức lao động từ 10 đến 12 giờ làm việc/ngày, công nhân mỏ còn bị cai thợ đàn áp, đánh đập tàn nhẫn. Chính trong hoàn cảnh khốc liệt đó, ý chí bất khuất của những người thợ mỏ được tôi rèn.

Cẩm Phả chính là nơi đầu tiên của tỉnh Quảng Ninh thành lập Chi bộ Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội vào năm 1928, là nơi xuất bản tờ báo Than, tổ chức những hoạt động đấu tranh gây chấn động làm nức lòng công nhân cả nước. Cẩm Phả cũng là nơi khởi đầu cuộc tổng bãi công của hơn 30 nghìn công nhân mỏ từ ngày 12-11 đến 28-11-1936. Với tinh thần đấu tranh bền bỉ, liên tục và quyết liệt, cuộc tổng bãi công đã giành được thắng lợi hoàn toàn. Đánh giá về cuộc bãi công của công nhân mỏ Cẩm Phả, báo Le Travail (Lao động), tờ báo công khai của Đảng ta ra ngày 27-11-1936 đã viết: Cuộc đấu tranh trong bình tĩnh và kỷ luật, đấu tranh với một ý chí không gì lay chuyển nổi của giai cấp vô sản. Đây là đặc trưng chủ yếu đã toát ra từ trong cuộc bãi công đáng khâm phục của công nhân mỏ Cẩm Phả. Đây là cuộc bãi công lớn nhất, tiêu biểu cho phong trào cách mạng nước ta thời kỳ 1936 - 1939. Thắng lợi của cuộc tổng bãi công đã để lại bài học sâu sắc về ý thức “kỷ luật và đồng tâm”, về tinh thần đấu tranh cách mạng kiên cường bất khuất, là niềm tự hào của các thế hệ công nhân mỏ. Và ngày 12-11-1936 đã đi vào lịch sử và trở thành Ngày Truyền thống của công nhân mỏ.

Đến với vùng mỏ Cẩm Phả, được chứng kiến những đổi thay mạnh mẽ của vùng đất này mới cảm nhận hết ý chí và sức mạnh to lớn của những công nhân mỏ. Phố mỏ ngày ấy chỉ có vài khu đông đúc ở Núi Trọc, Chợ cũ, Chợ mới,... nay đã là đô thị với những con phố rộng thênh thang, tỏa đi ngang dọc khắp nơi. Những tòa nhà cao tầng hiện đại, quy hoạch gọn ghẽ ở Bến Gio, Cẩm Bình. Cuộc sống của công nhân mỏ đã thay đổi rõ nét, “mặc áo sơ-mi trắng lên tầng, rồi mới thay áo công nhân bảo hộ”, hết ca có người giặt quần áo, bữa ăn của thợ mỏ đã được cải thiện. Có xe ca đưa đón công nhân, nhiều khu vực sản xuất được trang bị công nghệ hiện đại, tự động, có máy điều hòa, tắm nóng lạnh. Đời sống tinh thần được quan tâm, thu nhập từng bước được cải thiện, đã có sân vận động, nhà thi đấu, nhà sinh hoạt văn hóa, thư viện để vui chơi, giải trí phục vụ công nhân sau giờ làm việc. Ngày càng nhiều công ty đầu tư xây dựng các khu chung cư dành riêng cho công nhân mỏ. Nơi đây có sản phẩm du lịch mới, tham quan mỏ than. Trên địa bàn hiện có 10 công ty khai thác và chế biến than đang hoạt động, do vậy Cẩm Phả có lợi thế với sản phẩm du lịch này.

Cùng với những đổi thay ấn tượng của ngành than, của công nhân mỏ, những năm gần đây, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Cẩm Phả hằng năm đều đạt và vượt chỉ tiêu. Thu ngân sách thành phố đạt hơn một nghìn tỷ đồng, thu nhập bình quân đầu người đạt gần năm nghìn USD/người/năm, một con số khá ấn tượng. Năm 2005, thị xã Cẩm Phả được công nhận là đô thị loại III. Năm 2012, thị xã Cẩm Phả chính thức trở thành TP Cẩm Phả và đến ngày 17-4-2015, Thủ tướng Chính phủ đã công nhận TP Cẩm Phả là đô thị loại II trực thuộc tỉnh Quảng Ninh. Xây dựng Cẩm Phả trở thành thành phố công nghiệp - cảng biển văn minh, hiện đại, là khát vọng của bao thế hệ người Cẩm Phả. Với truyền thống “kỷ luật và đồng tâm”, đội ngũ những người công nhân mỏ vẫn đang siết chặt tay nhau, đoàn kết vượt qua những khó khăn, thử thách và cùng với TP Cẩm Phả tiếp tục đạt được những thành tựu mới trong chặng đường xây dựng và phát triển đi lên của vùng mỏ.