Phát triển thị trường khoa học và công nghệ (KH&CN); Thương mại hóa công nghệ, kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; Hỗ trợ, khuyến khích doanh nghiệp ứng dụng, đổi mới công nghệ; Tăng cường vai trò quản lý nhà nước đối với hoạt động chuyển giao công nghệ (CGCN);… Đó là những nội dung được tập trung sửa đổi trong Luật Chuyển giao công nghệ (sửa đổi) do Bộ KH&CN xây dựng và được đưa ra thảo luận tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội Khóa XIV.

Vì sao cần sửa đổi Luật Chuyển giao công nghệ?

Ông Đỗ Hoài Nam – Vụ trưởng Vụ Đánh giá, Thẩm định và Giám định công nghệ, Bộ KH&CN Luật CGCN năm 2006 có hiệu lực từ tháng 7 năm 2007 đánh dấu một bước quan trọng trong việc hình thành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật thống nhất điều chỉnh hoạt động CGCN. Đồng thời tạo môi trường thuận lợi thúc đẩy hoạt động ứng dụng, đổi mới công nghệ, thương mại hóa công nghệ, thu hút CGCN từ nước ngoài và phát triển thị trường công nghệ nhằm nâng cao trình độ công nghệ, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và nền kinh tế. Luật CGCN đã tạo tiền đề cho việc hình thành, đi vào hoạt động của Quỹ Đổi mới công nghệ Quốc gia, góp phần nâng cao năng lực công nghệ của các doanh nghiệp, hình thành, phát triển thị trường công nghệ, từng bước tiếp thu, làm chủ công nghệ nhập.

Tuy nhiên, sau gần 10 năm thực hiện, bên cạnh những mặt đạt được, Luật CGCN năm 2006 cũng bộc lộ một số vấn đề không còn phù hợp với thực tế. Những bất cập, vướng mắc trong thực tế đòi hỏi cần những cơ chế phù hợp hơn.

Tao moi truong phap ly thuan loi cho chuyen giao cong nghe - Anh 1

Luật CGCN sửa đổi sẽ tạo cơ chế khuyến khích, thúc đẩy ứng dụng, chuyển giao kết quả nghiên cứu.

Thứ nhất, thị trường công nghệ vẫn chưa phát triển tương xứng với mục tiêu đề ra, chưa đủ sức thu hút, thúc đẩy nguồn cung và nguồn cầu công nghệ, đặc biệt là việc hình thành và phát triển các tổ chức trung gian trong hoạt động CGCN, cũng như một số hoạt động dịch vụ CGCN như dịch vụ đánh giá, định và giám định công nghệ.

Thứ hai, hoạt động CGCN chủ yếu là hình thức CGCN từ nước ngoài vào Việt Nam, tập trung ở các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài, trong đó phần lớn là hình thức CGCN từ công ty mẹ cho công ty con và công nghệ do các doanh nghiệp Việt Nam nhận chuyển giao từ các đối tác nước ngoài cần có hình thức quản lý phù hợp hơn. Ngoài ra, trên thực tế CGCN còn thực hiện thông qua các dự án đầu tư trong nước, trong đó triển khai theo các hợp đồng tổng thầu EPC (engineering procurement&construction), tức là hợp đồng thiết kế, mua sắm cung cấp thiết bị và thi công xây dựng công trình, đặc biệt trong lĩnh vực công nghiệp, giao thông,… Các hợp đồng EPC này hầu hết có nội dung công nghệ, nhưng trong hợp đồng EPC chưa thể hiện nội dung công nghệ và thực hiện theo quy định của Luật CGCN.

Hoạt động CGCN trong nước, chủ yếu là chuyển giao các kết quả nghiên cứu và thương mại hóa công nghệ giữa các trường đại học, viện nghiên cứu với doanh nghiệp, vẫn còn quá ít ỏi so với tiềm năng. Ngoài ra, cần quy định cụ thể hơn đối với hoạt động CGCN từ Việt Nam ra nước ngoài, mà hiện nay mới chỉ là việc bán thiết bị, máy móc có hàm chứa công nghệ.

Thứ ba, thời gian qua, nhiều bộ luật liên quan đến Luật CGCN như Luật KH&CN, Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Luật Thuế đã được sửa đổi, bổ sung nên một số điều khoản của Luật CGCN cần phải hoàn chỉnh cho phù hợp với các quy định mới của các Luật có liên quan này.

Ví dụ, trong điều 32 Luật CGCN năm 2006, chỉ hoạt động dịch vụ giám định công nghệ được quy định là hoạt động kinh doanh hoặc không kinh doanh có điều kiện, còn dịch vụ đánh giá và định giá công nghệ lại không quy định. Tuy nhiên, theo Luật KH&CN sửa đổi, hoạt động của tổ chức KH&CN dạng này lại thuộc phạm trù hoạt động kinh doanh có điều kiện. Vì vậy, cần phải sửa đổi cho phù hợp với tinh thần của Luật KH&CN sửa đổi, như bổ sung thêm các tiêu chí, điều kiện hoạt động của các đơn vị dịch vụ CGCN này.

Khuyến khích phát triển, ứng dụng và đổi mới công nghệ

Trình bày Tờ trình về dự án Luật CGCN sửa đổi tại Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XIV, Bộ trưởng Bộ KH&CN Chu Ngọc Anh cho biết, Dự thảo Luật CGCN (sửa đổi) gồm 7 chương, 62 điều, trong đó sửa đổi 30/61 điều, bổ sung 02 điều mới và bỏ 01 điều. Theo Bộ trưởng, dự thảo Luật CGCN sửa đổi có nhiều nội dung mới như: Quy định cơ chế hỗ trợ, khuyến khích phát triển tổ chức trung gian, nâng cao năng lực nguồn cung và cầu để phát triển thị trường KH&CN (Điều 35 Dự thảo Luật); Quy định việc đưa kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, công nghệ, đối tượng sở hữu trí tuệ có thể xác định được giá trị làm tài sản bảo đảm trong giao dịch vay vốn đầu tư cho các dự án KH&CN, khởi nghiệp công nghệ, phát triển sản xuất kinh doanh (khoản 3 Điều 46 Dự thảo Luật).

Cơ chế phối hợp giữa Bộ KH&CN với các cơ quan liên quan về chống chuyển giá trong hoạt động CGCN, đặc biệt giữa công ty mẹ – công ty con hoặc giữa các bên có quan hệ liên kết; tổ chức điều tra, thu thập thông tin về CGCN, đổi mới công nghệ phục vụ quản lý nhà nước về CGCN (khoản 3 Điều 23 và Điều 51 Dự thảo Luật).

Tăng cường trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước trong công tác thẩm định công nghệ các dự án đầu tư nhằm hạn chế, ngăn chặn công nghệ lạc hậu, công nghệ ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh, môi trường và phát triển bền vững của quốc gia (Điều 5, Điều 12 và Điều 26 Dự thảo Luật).

Mở rộng nội dung chi của Quỹ phát triển KH&CN của doanh nghiệp theo hướng doanh nghiệp có thể sử dụng Quỹ phát triển KH&CN của doanh nghiệp để đầu tư, đối ứng vốn và nhận đối ứng vốn đầu tư cho ươm tạo công nghệ, thương mại hóa công nghệ, kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ của doanh nghiệp (khoản 4 Điều 46 Dự thảo Luật); Quy định về thống kê CGCN theo hướng phù hợp với Luật Thống kê 2015.

Liên quan đến những nội dung cần sửa đổi, bổ sung, Bộ trưởng Chu Ngọc Anh cho biết, về phát triển thị trường KH&CN, Điều 33, 34 và 35 của Dự thảo Luật quy định theo hướng tạo cơ chế, chính sách đủ mạnh cho các tổ chức trung gian, thúc đẩy cung, cầu công nghệ; Về thương mại hóa công nghệ, kết quả KH&CN, Điều 41 và 43 Dự thảo Luật quy định một số biện pháp nhằm thúc đẩy thương mại hóa công nghệ, trong đó bao gồm giao quyền sở hữu, quyền sử dụng kết quả KH&CN có sử dụng ngân sách nhà nước; trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước trong công bố kết quả KH&CN có khả năng thương mại hóa; hỗ trợ của Nhà nước đối với hoạt động liên kết giữa tổ chức ứng dụng, CGCN ở địa phương với tổ chức KH&CN; quy định về phân chia lợi nhuận khi sử dụng, thương mại hóa kết quả KH&CN được tạo ra bằng ngân sách nhà nước để bảo đảm thống nhất với Luật KH&CN.

Về hỗ trợ, khuyến khích doanh nghiệp ứng dụng và đổi mới công nghệ, Điều 46 được sửa đổi, bổ sung theo hướng hỗ trợ doanh nghiệp trong việc thành lập tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; đầu tư cho hạ tầng kỹ thuật hoạt động giải mã công nghệ là đối tượng được ưu tiên xem xét hỗ trợ vốn, bảo lãnh vay vốn, hỗ trợ lãi suất vay từ Quỹ Đổi mới công nghệ Quốc gia và các tổ chức tín dụng; hoạt động liên kết giữa tổ chức KH&CN với doanh nghiệp thuộc địa bàn, lĩnh vực ưu đãi đầu tư; mở rộng nội dung chi của Quỹ phát triển KH&CN của doanh nghiệp; cho phép sử dụng kết quả KH&CN, công nghệ và đối tượng sở hữu công nghiệp làm tài sản bảo đảm trong giao dịch vay vốn đầu tư cho dự án KH&CN, khởi nghiệp công nghệ và phát triển sản xuất, kinh doanh.

Về quản lý nhà nước đối với hoạt động CGCN, để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động chuyển giao, thương mại hóa, ứng dụng và đổi mới công nghệ, Điều 5, 12, 23, 26, 45, 51, 53, 54, 55 được sửa đổi, bổ sung theo hướng bổ sung chính sách ưu tiên phát triển công nghệ phục vụ phát triển sản phẩm chủ lực, sản phẩm trọng điểm, sản phẩm quốc gia nhằm bảo đảm đầu tư có trọng tâm, trọng điểm; tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động chuyển giao, ứng dụng công nghệ để hạn chế, ngăn chặn công nghệ lạc hậu, ảnh hưởng đến môi trường và phát triển bền vững quốc gia; bổ sung quy định về trách nhiệm của cơ quan quản lý KH&CN và quản lý chuyên ngành trong thẩm định công nghệ từ đầu vào quá trình xét chủ trương đầu tư và quyết định đầu tư để ngăn chặn công nghệ lạc hậu, gây nguy hại đến sức khỏe con người, tài nguyên, môi trường và phát triển bền vững quốc gia; bổ sung quy định về CGCN từ công ty mẹ sang công ty con và giữa các bên có quan hệ liên kết để hạn chế hiện tượng chuyển giá qua hoạt động CGCN, gây thất thu ngân sách nhà nước.

Đồng thời, sửa đổi cơ chế quản lý hợp đồng CGCN từ tự nguyện đăng ký sang bắt buộc đăng ký đối với tổ chức, cá nhân CGCN từ nước ngoài vào Việt Nam, từ Việt Nam ra nước ngoài và CGCN trong nước có sử dụng vốn nhà nước; sửa đổi chính sách về ưu đãi thuế theo hướng quy định đối tượng được ưu đãi; cơ chế phối hợp quản lý hoạt động CGCN thông qua hệ thống kê khai thuế thu nhập doanh nghiệp;…

Hoạt động CGCN bao gồm nhiều vấn đề hợp lại, Luật CGCN chỉ là một trong số những công cụ cần thiết để hỗ trợ. Ngoài việc quy định về CGCN ra nước ngoài, đặc biệt đối với những công nghệ được nghiên cứu trên cơ sở vốn đầu tư Nhà nước, cùng với các quy định khác, Luật CGCN sửa đổi được kỳ vọng sẽ làm thay đổi hoàn toàn diện mạo của hoạt động CGCN, tạo cơ chế khuyến khích, thúc đẩy ứng dụng, chuyển giao kết quả nghiên cứu, thu hút công nghệ tiên tiến. Qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong ứng dụng, đổi mới công nghệ, góp phần phát triển thị trường KH&CN, đồng thời nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đối với hoạt động CGCN, ngăn chặn hiện tượng chuyển giá qua hoạt động CGCN.

Nguyễn Hạnh